Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh hoạt động thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào trong nước, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTTTRNN) là một phương thức kinh tế thiết yếu giúp các quốc gia mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến và khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt trong nước. So với các quốc gia phát triển trong khu vực như Nhật Bản hay Hàn Quốc vốn đã tham gia thị trường quốc tế từ sớm với các thương hiệu toàn cầu, Việt Nam bắt đầu tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ những năm 1990 với quy mô ban đầu còn khiêm tốn.

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ban hành Luật Đầu tư năm 2005 cùng Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này đã có những bước chuyển biến quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư ra nước ngoài nhanh chóng bộc lộ nhiều điểm bất cập, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp tốc độ phát triển thực tế của các doanh nghiệp. Nhằm giải quyết yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ kinh tế này, tác giả Trương Quang Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu cụ thể, chi tiết về tình hình ĐTTTRNN ở Việt Nam, đồng thời đóng góp các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐTTTRNN. Để đạt được mục tiêu này, tác giả triển khai ba nhóm nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về ĐTTTRNN và pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN tại Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN trên các phương diện: chủ thể, điều kiện, thủ tục, hình thức, lĩnh vực, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, cùng cơ chế quản lý nhà nước.
  3. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật, chỉ ra những kết quả đạt được, các vướng mắc phát sinh từ phía thể chế, cơ quan quản lý và doanh nghiệp; từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định này. Về phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam trong mối tương quan với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam sang các thị trường tiếp nhận đầu tư; phạm vi thời gian tập trung phân tích tiến trình lập pháp từ mốc Nghị định số 22/1999/NĐ-CP đến khung khổ Luật Đầu tư năm 2005, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, kết hợp khảo sát số liệu thực tiễn hoạt động đầu tư lũy kế đến hết tháng 2 năm 2011.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc nhóm nghiên cứu pháp lý thực định kết hợp khảo cứu thực tiễn kinh tế - xã hội. Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý nghiên cứu được xây dựng dựa trên các nguồn văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế, bao gồm:

  • Các định nghĩa pháp lý về hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 14 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005; khoản 1 Điều 1 Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/04/1999; khoản 1 Điều 3 Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ; Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/08/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  • Hệ thống văn bản luật liên quan như Hiến pháp, Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Quản lý ngoại hối, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
  • Các điều ước và công ước quốc tế song phương, đa phương mà Việt Nam tham gia: Công ước về Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA 1985, Việt Nam tham gia năm 1993), các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp pháp lý: Dùng để mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật, làm rõ bản chất, đặc trưng, cấu trúc quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ ĐTTTRNN.
  • Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng xuyên suốt để đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử, cụ thể là so sánh đối chiếu giữa Nghị định số 22/1999/NĐ-CP với Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP nhằm chỉ ra sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước.
  • Phương pháp thống kê, mô tả và tổng kết thực tiễn: Thu thập, phân nhóm và đánh giá các dữ liệu thứ cấp về số lượng dự án, quy mô vốn, cơ cấu ngành nghề và địa bàn đầu tư nhằm đối chiếu giữa quy định trên văn bản với thực tế áp dụng.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ đánh giá thực tiễn trong khóa luận được trích xuất từ các báo cáo chính thức của Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tính đến hết tháng 2 năm 2011), cùng các tư liệu thực tế về dự án của các tập đoàn, doanh nghiệp Việt Nam như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, Công ty Cổ phần Đầu tư Sài Gòn (SGI), Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí (PVFCCo).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về ĐTTTRNN và xác lập vị trí của hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ này. Về bản chất, ĐTTTRNN là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư bỏ vốn bằng tiền, tài sản hoặc công nghệ vào quốc gia tiếp nhận đầu tư để thiết lập dự án và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh đó. Tác giả phân định ĐTTTRNN với đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (như nguồn vốn ODA) thông qua các tiêu chí đặc trưng:

Tiêu chí phân biệt Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTTTRNN) Đầu tư gián tiếp ra nước ngoài (ODA)
Chủ thể thực hiện Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân Chính phủ, các tổ chức quốc tế
Mục đích tiên quyết Tìm kiếm lợi nhuận, mở rộng thị trường Hỗ trợ phát triển, gắn với mục tiêu chính trị, ngoại giao
Hình thức góp vốn Tiền mặt, tài sản hữu hình, vô hình, công nghệ Chủ yếu bằng tiền (vốn vay ưu đãi hoặc viện trợ)
Quyền quản lý Nhà đầu tư trực tiếp điều hành, nắm quyền kiểm soát vốn Bên cấp vốn không tham gia quản lý điều hành trực tiếp
Bản chất quan hệ Quan hệ hợp tác bình đẳng theo quy luật thị trường Quan hệ chủ nợ – con nợ, kèm theo các điều kiện chính trị

Về vai trò, tác giả luận giải tác động đa chiều của ĐTTTRNN đối với nhà đầu tư (tận dụng nguyên liệu giá rẻ, mở rộng thị trường, phân tán rủi ro), đối với nước xuất khẩu đầu tư (thu ngoại tệ, nâng cao năng lực doanh nghiệp, tiếp thị hình ảnh quốc gia) và đối với nước tiếp nhận đầu tư (bổ sung vốn, giải quyết việc làm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ). Đối với Việt Nam, ĐTTTRNN giúp các doanh nghiệp thâm nhập thị trường khu vực và thế giới, tích lũy kinh nghiệm quản trị quốc tế, đồng thời tạo nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu thiết yếu cho nền kinh tế nội địa (như các dự án khai thác dầu mỏ phục vụ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất).

Về mặt lập pháp, tác giả phân tích sơ lược tiến trình phát triển từ khi Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ra đời (văn bản đầu tiên sau 10 năm kể từ dự án đầu tư ra nước ngoài đầu tiên được cấp phép). Sau hơn 6 năm áp dụng, Nghị định 22 bộc lộ nhiều điểm nghẽn: quy định thiếu đồng bộ, thủ tục rườm rà, can thiệp sâu vào quyền tự chủ kinh doanh và thiếu cơ chế phối hợp liên ngành. Việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP đã chính thức luật hóa hoạt động này, xác lập 4 vai trò của pháp luật ĐTTTRNN: thiết lập hành lang pháp lý, công cụ quản lý nhà nước, công cụ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và thúc đẩy sự hoàn thiện của toàn bộ hệ thống pháp luật đầu tư.

Chương 2: Thực trạng về pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết thực trạng các chế định pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động ĐTTTRNN tại Việt Nam:

1. Quy định về chủ thể đầu tư: Nghị định 22/1999/NĐ-CP giới hạn phạm vi chủ thể trong ba loại hình: Doanh nghiệp nhà nước, Hợp tác xã và Doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp. Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định 78/2006/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi chủ thể cho mọi thành phần kinh tế, bao gồm: Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Công ty Hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp nhà nước chưa chuyển đổi; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI); Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội; Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã; các cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao có hoạt động sinh lợi; và hộ kinh doanh, cá nhân Việt Nam.

2. Quy định về điều kiện đầu tư: Khóa luận chỉ ra rằng các điều kiện định tính, thiếu tiêu chí xác định trong Nghị định 22 (yêu cầu dự án "có tính khả thi" và nhà đầu tư "có năng lực tài chính") đã được bãi bỏ. Điều 76 Luật Đầu tư năm 2005 và Điều 4 Nghị định 78/2006/NĐ-CP chuẩn hóa các điều kiện minh bạch: có dự án ĐTTTRNN; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam; tuân thủ quy định về quản lý vốn nhà nước (nếu có sử dụng vốn nhà nước); và được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

3. Quy định về thủ tục đầu tư: Thủ tục cấp phép có sự cải cách căn bản từ việc phân chia theo nguồn vốn và hình thức sở hữu sang căn cứ vào quy mô vốn đầu tư:

Chế định thủ tục Nghị định số 22/1999/NĐ-CP & Thông tư 05/2001/TT-BKH Luật Đầu tư năm 2005 & Nghị định số 78/2006/NĐ-CP
Dự án thuộc diện Đăng ký Áp dụng cho vốn ngoài nhà nước dưới 1 triệu USD. Hồ sơ gồm 05 bộ. Thời hạn xử lý: 15 ngày làm việc. Áp dụng cho dự án có quy mô vốn dưới 15 tỷ VNĐ. Hồ sơ gồm 03 bộ. Thời hạn xử lý: 15 ngày làm việc.
Dự án thuộc diện Thẩm định / Thẩm tra Áp dụng cho dự án của doanh nghiệp nhà nước hoặc dự án có vốn từ 1 triệu USD trở lên. Hồ sơ 08 bộ; thời hạn xử lý không quá 30 ngày. Áp dụng cho dự án có quy mô vốn từ 15 tỷ VNĐ trở lên. Hồ sơ gồm 08 bộ gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư lấy ý kiến liên ngành.
Hồ sơ loại bỏ bớt Yêu cầu báo cáo tài chính 1 năm gần nhất, văn bản chấp thuận của nước tiếp nhận đầu tư. Bãi bỏ văn bản chấp thuận của nước sở tại và báo cáo tài chính năm gần nhất trong hồ sơ ban đầu.
Phân cấp Thủ tướng Chính phủ Dự án thẩm định theo thẩm quyền riêng của Thủ tướng Chính phủ. Chấp thuận các dự án tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, báo chí có vốn nhà nước từ 150 tỷ VNĐ hoặc vốn khác từ 300 tỷ VNĐ; các dự án khác có vốn nhà nước từ 300 tỷ VNĐ hoặc vốn khác từ 600 tỷ VNĐ.

4. Quy định về hình thức và lĩnh vực đầu tư: Căn cứ Điều 21 Luật Đầu tư năm 2005, các hình thức đầu tư ra nước ngoài được thừa nhận gồm: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư Việt Nam; thành lập tổ chức kinh tế liên doanh; mua cổ phần hoặc góp vốn để quản lý điều hành; ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); thực hiện sáp nhập và mua lại (M&A).

Về lĩnh vực, Điều 75 Luật Đầu tư năm 2005 quy định khuyến khích các lĩnh vực: xuất khẩu nhiều lao động, phát huy ngành nghề truyền thống, mở rộng thị trường, khai thác tài nguyên và tăng thu ngoại tệ; nghiêm cấm các dự án gây phương hại đến an ninh quốc gia, quốc phòng, văn hóa, thuần phong mỹ tục. Số liệu thống kê thực tiễn lũy kế đến hết tháng 2 năm 2011 được khóa luận trích dẫn như sau:

Lĩnh vực đầu tư Số dự án Tỷ lệ dự án (%) Vốn đăng ký (USD) Tỷ lệ vốn (%)
Khai khoáng 88 15,30% 16.912.881.482 71,25%
Nông, lâm nghiệp, thủy sản 7 1,22% 2.112.875.678 8,90%
Nghệ thuật và giải trí 59 10,26% 1.266.458.757 5,33%
Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa 3 0,52% 1.034.550.000 4,35%
Thông tin và truyền thông 28 4,87% 741.322.116 3,12%
Công nghiệp chế biến, chế tạo 110 19,13% 558.973.400 2,35%
Kinh doanh bất động sản 28 4,87% 394.974.634 1,66%
Tài chính, bảo hiểm 17 2,96% 225.128.000 0,95%
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa 98 17,04% 205.201.842 0,86%
Các lĩnh vực khác 137 23,83% 283.355.770 1,23%
Tổng cộng lũy kế 575 100% 23.735.721.679 100%

5. Quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư và quản lý nhà nước: Nhà đầu tư có quyền chuyển vốn, tài sản ra nước ngoài sau khi dự án được nước sở tại chấp thuận, được hưởng các ưu đãi đầu tư và tuyển dụng lao động Việt Nam (Điều 77). Ngược lại, nhà đầu tư gánh vác 6 nghĩa vụ cụ thể (Điều 78 Luật Đầu tư 2005, Điều 22, 25, 26, 27 Nghị định 78/2006/NĐ-CP):

  • Tuân thủ pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
  • Chuyển toàn bộ lợi nhuận và thu nhập về nước trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có quyết toán thuế (gia hạn qua Ngân hàng Nhà nước không quá 02 lần, mỗi lần tối đa 06 tháng).
  • Chấp hành chế độ báo cáo tài chính hàng năm trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước, Bộ quản lý chuyên ngành và UBND cấp tỉnh.
  • Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế (khấu trừ thuế nếu chưa ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, hoặc áp dụng theo Hiệp định nếu đã ký kết).
  • Thanh lý dự án và chuyển các khoản thu về nước trong vòng 06 tháng kể từ khi kết thúc việc thanh lý (gia hạn qua Bộ Kế hoạch và Đầu tư một lần duy nhất không quá 06 tháng).
  • Trường hợp chưa chuyển vốn, lợi nhuận về nước phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

Bộ máy quản lý nhà nước phân định rõ trách nhiệm của Chính phủ thống nhất quản lý, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp, các Bộ ngành phối hợp, UBND cấp tỉnh giám sát địa phương và Cơ quan đại diện ngoại giao hỗ trợ pháp lý, tháo gỡ khó khăn tại nước ngoài.

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam

Tác giả đánh giá bức tranh thực tiễn thông qua việc đối chiếu giữa thành tựu và hạn chế:

Thành tựu ghi nhận: Số lượng và giá trị vốn đầu tư gia tăng nhanh chóng. Trong 2 tháng đầu năm 2011, lượng vốn đăng ký đạt trên 1,264 tỷ USD với 16 dự án (gấp 93 lần so với cả 10 năm đầu thực hiện đầu tư ra nước ngoài; giai đoạn 1999–2005 vốn đầu tư chỉ bằng 58% của 2 tháng đầu năm 2011). Thị trường đầu tư mở rộng đến 55 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng đầu là Lào (195 dự án), Campuchia (87 dự án) và Hoa Kỳ (73 dự án). Nhiều dự án quy mô lớn được triển khai đúng tiến độ như: Dự án dầu khí 433a, 416b tại Angieria và lô SK305 tại Malaysia của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (150 triệu USD); Thủy điện Xekaman 3 tại Lào (100 triệu USD); Liên doanh OCP và PVFCCo tại Maroc (khoảng 600 triệu USD); Dự án Thủy điện Nậm Ngum 4 và Nậm Sum của Công ty SGI tại Lào (800 triệu USD); Dự án phức hợp của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai tại Lào (260 triệu USD).

Hạn chế tồn tại:

  • Về thể chế: Chưa ban hành danh mục cụ thể các ngành nghề khuyến khích, cấm hoặc hạn chế ĐTTTRNN theo quy định tại Điều 79 Luật Đầu tư năm 2005 và Điều 5 Nghị định 78/2006/NĐ-CP; thiếu cơ chế bảo hiểm rủi ro đầu tư; thủ tục chuyển tiền phức tạp.
  • Về quản lý nhà nước: Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nhất cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài gây tình trạng ùn tắc hồ sơ; phát sinh mâu thuẫn thủ tục giữa Việt Nam và các nước như Lào, Campuchia, Trung Quốc (Việt Nam yêu cầu văn bản chấp thuận của nước sở tại thì mới cấp phép, trong khi nước sở tại đòi hỏi giấy phép của Việt Nam trước); buông lỏng theo dõi giai đoạn triển khai dự án; chế tài xử lý vi phạm nghĩa vụ báo cáo chưa đủ sức răn đe; cơ quan đại diện ngoại giao chưa phát huy vai trò hỗ trợ; thiếu chiến lược tổng thể và dữ liệu xúc tiến đầu tư.
  • Về phía doanh nghiệp: Năng lực vốn còn hạn chế, thiếu khảo sát thị trường nước sở tại, mạng lưới ngân hàng Việt Nam ở nước ngoài quá ít, một số doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh và cố tình không thực hiện nghĩa vụ báo cáo định kỳ.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống kiến nghị và giải pháp:

  • 7 kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Ban hành văn bản quy định danh mục cụ thể các lĩnh vực khuyến khích, hạn chế và cấm ĐTTTRNN.
    2. Xây dựng văn bản pháp luật quy định về bảo hiểm cho hoạt động ĐTTTRNN.
    3. Phân cấp thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh).
    4. Cụ thể hóa trách nhiệm, quyền hạn của Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài trong hỗ trợ pháp lý và bảo hộ nhà đầu tư.
    5. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ chủ động ban hành các thông tư hướng dẫn hoạt động ĐTTTRNN trong lĩnh vực chuyên ngành.
    6. Bổ sung các quy phạm chế tài xử phạt hành chính hoặc kỷ luật nghiêm khắc đối với hành vi không chấp hành nghĩa vụ báo cáo, thống kê định kỳ.
    7. Tiếp tục đàm phán, mở rộng ký kết các điều ước quốc tế, hiệp định song phương về khuyến khích, bảo hộ đầu tư và tránh đánh thuế hai lần.
  • 6 giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng chiến lược ĐTTTRNN cấp quốc gia theo kế hoạch 5 năm gắn với các thị trường và ngành nghề trọng điểm.
    2. Xây dựng cơ chế ưu đãi tài chính: miễn các loại thuế (kể cả thuế chuyển lợi nhuận về nước) trong 5 năm đầu dự án hoạt động; lập Quỹ hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài; ưu đãi tín dụng cho dự án trọng điểm và khai thác tài nguyên; xây dựng cơ chế khen thưởng danh hiệu cho doanh nghiệp tiêu biểu.
    3. Bố trí ngân sách nhà nước đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư ra nước ngoài.
    4. Thành lập Trung tâm thông tin về lĩnh vực đầu tư để cung cấp cơ sở dữ liệu pháp lý và kinh tế chuẩn xác cho doanh nghiệp.
    5. Mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại đa phương và song phương.
    6. Khuyến khích thành lập các Hiệp hội đầu tư Việt Nam ở nước ngoài nhằm đại diện tiếng nói doanh nghiệp và hỗ trợ tháo gỡ khó khăn nội bộ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự chuyển biến về kỹ thuật lập pháp và chính sách quản lý nhà nước của Việt Nam đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Đóng góp nổi bật của văn bản gồm:

  • Về mặt học thuật và phân tích pháp lý: Làm rõ bước nhảy vọt từ tư duy bao cấp, kiểm soát chặt chẽ và hạn chế chủ thể theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP sang tư duy tôn trọng quyền tự do kinh doanh theo Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP. Công trình phân tích có hệ thống cấu trúc quyền, nghĩa vụ và quy trình thủ tục dựa trên tiêu chuẩn quy mô vốn thay cho hình thức sở hữu.
  • Về mặt thực chứng số liệu: Tổng hợp đầy đủ dữ liệu thống kê chính thống đến tháng 2 năm 2011, phác họa bức tranh toàn cảnh về sự phân bố dòng vốn: 575 dự án với tổng vốn đăng ký 23,735 tỷ USD; khẳng định tính tập trung cao độ vào lĩnh vực khai khoáng (chiếm 71,25% tổng vốn) và hai thị trường lân cận là Lào (195 dự án), Campuchia (87 dự án).
  • Về mặt lập pháp và chính sách thực tiễn: Phát hiện và chỉ ra các khoảng trống lập pháp kéo dài, tiêu biểu là sự chậm trễ trong việc ban hành danh mục lĩnh vực theo quy định tại Điều 79 Luật Đầu tư 2005; nghịch lý "con gà - quả trứng" trong thủ tục chấp thuận đầu tư song phương giữa Việt Nam và các nước láng giềng; từ đó đặt nền móng kiến nghị về phân cấp quản lý cấp phép cho địa phương và thiết lập cơ chế bảo hiểm đầu tư ra nước ngoài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện một số giới hạn thực tiễn được chính văn bản chỉ ra:

  • Khâu đánh giá tình hình hoạt động của các dự án còn gặp khó khăn do phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài không thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo tài chính định kỳ về cơ quan quản lý nhà nước, dẫn đến tình trạng thiếu hụt dữ liệu chi tiết về tỷ lệ vốn thực hiện thực tế so với vốn đăng ký.
  • Khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở số liệu lũy kế tính đến tháng 2 năm 2011, phản ánh giai đoạn đầu sau khi Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực.
  • Do rào cản thông tin và sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật của 55 quốc gia tiếp nhận đầu tư chưa thể được phân tích sâu ở góc độ so sánh chi tiết giữa luật nước sở tại và luật Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ nước tiếp nhận đầu tư (ISDS) theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết.
  • Nghiên cứu mô hình phân cấp quản lý cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài tại các địa phương và đánh giá tác động sau khi ban hành danh mục các lĩnh vực cấm, hạn chế đầu tư.
  • Khảo sát chuyên sâu khung pháp lý của các thị trường trọng điểm (Lào, Campuchia, các quốc gia châu Phi) để xây dựng cẩm nang pháp luật so sánh cho doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên chuyên ngành Luật học: Đặc biệt là bộ môn Luật Kinh tế, Luật Đầu tư và Luật Thương mại quốc tế; tài liệu cung cấp nguồn tư liệu học thuật rõ ràng để giảng dạy và nghiên cứu về sự tiến hóa của chế định đầu tư ra nước ngoài trong pháp luật Việt Nam.
  • Sinh viên khối ngành Kinh tế quốc tế và Quản trị kinh doanh: Cung cấp bức tranh thực tế về các dự án đầu tư nước ngoài tiêu biểu của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 1999–2011 cùng cơ cấu phân bổ vốn theo ngành nghề và thị trường.
  • Nhà nghiên cứu lập pháp và cơ quan soạn thảo chính sách: Phần phân tích các hạn chế của Nghị định số 78/2006/NĐ-CP (về cấp phép tập trung, xung đột hồ sơ song phương, thiếu cơ chế bảo hiểm và chế tài báo cáo) là tài liệu tham khảo giá trị cho các đợt sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư và các nghị định hướng dẫn sau này.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ĐTTTRNN) với đầu tư gián tiếp dưới hình thức ODA dựa trên những yếu tố pháp lý cơ bản nào?
Trả lời: Dựa trên 5 tiêu chí: (1) Chủ thể (ĐTTTRNN do doanh nghiệp, cá nhân thực hiện bằng vốn tự có; ODA do Chính phủ, tổ chức quốc tế thực hiện); (2) Mục đích (ĐTTTRNN lấy lợi nhuận làm mục tiêu tiên quyết; ODA mang mục đích hỗ trợ phát triển và gắn liền ràng buộc chính trị); (3) Nguồn vốn (ĐTTTRNN có thể bằng tiền, tài sản hoặc chuyển giao công nghệ; ODA thuần túy bằng tiền mặt); (4) Tính chất quản lý (ĐTTTRNN nhà đầu tư trực tiếp nắm quyền điều hành dự án; ODA không tham gia quản lý điều hành trực tiếp); (5) Mối quan hệ pháp lý (ĐTTTRNN là quan hệ kinh tế bình đẳng đôi bên cùng có lợi; ODA mang tính chất chủ nợ – con nợ).

2. Tiêu chí phân định thủ tục đăng ký và thẩm tra cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP được quy định như thế nào?
Trả lời: Tiêu chí phân định dựa trên quy mô vốn:

  • Thủ tục đăng ký: Áp dụng cho các dự án có vốn đầu tư dưới 15 tỷ VNĐ; nộp 03 bộ hồ sơ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thời hạn giải quyết trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.
  • Thủ tục thẩm tra: Áp dụng cho các dự án có vốn đầu tư từ 15 tỷ VNĐ trở lên; nộp 08 bộ hồ sơ tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư để lấy ý kiến thẩm tra của các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh liên quan.

3. Nghĩa vụ chuyển lợi nhuận và chuyển vốn sau khi thanh lý dự án về nước được quy định cụ thể về mặt thời hạn như thế nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 Nghị định 78/2006/NĐ-CP:

  • Chuyển lợi nhuận: Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có quyết toán thuế tại nước sở tại, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận và thu nhập về nước. Nếu có nhu cầu kéo dài, phải xin phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; gia hạn không quá 02 lần, mỗi lần tối đa 06 tháng.
  • Chuyển vốn thanh lý: Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kết thúc việc thanh lý dự án, phải chuyển toàn bộ các khoản thu về nước. Nếu có nhu cầu kéo dài, phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận; việc gia hạn thực hiện 01 lần duy nhất với thời gian tối đa 06 tháng.

4. Dữ liệu thống kê đến tháng 2/2011 phản ánh đặc điểm gì về quy mô vốn và thị trường đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam?
Trả lời: Tính đến hết tháng 2/2011, Việt Nam có 575 dự án ĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn lũy kế đạt 23,735 tỷ USD tại 55 quốc gia và vùng lãnh thổ. Về lĩnh vực, khai khoáng chiếm tỷ trọng vốn áp đảo với 71,25% (16,912 tỷ USD qua 88 dự án), tiếp theo là nông lâm thủy sản (8,90%), nghệ thuật giải trí (5,33%). Về địa bàn, Lào là thị trường thu hút nhiều dự án nhất (195 dự án), kế tiếp là Campuchia (87 dự án) và Hoa Kỳ (73 dự án).

5. Điểm nghẽn nổi cộm nhất trong quy trình cấp phép ĐTTTRNN mà tác giả chỉ ra ở cấp độ quản lý nhà nước là gì?
Trả lời: Tác giả chỉ ra sự quá tải và chậm trễ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nhất có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài cho mọi quy mô dự án mà không có sự phân cấp cho địa phương. Đồng thời, tồn tại nghịch lý thủ tục khi phía Việt Nam yêu cầu doanh nghiệp phải có văn bản chấp thuận của nước tiếp nhận vốn mới cấp phép, trong khi nhiều nước tiếp nhận (như Lào, Campuchia, Trung Quốc) lại quy định phải có Giấy chứng nhận đầu tư của Việt Nam trước mới xem xét cấp phép.

Kết luận

Khóa luận "Pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Trương Quang Anh là công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2011. Khóa luận phân tích sắc bén sự chuyển biến tích cực trong khung pháp lý từ cơ chế quản lý mang tính can thiệp của Nghị định số 22/1999/NĐ-CP sang khuôn khổ thông thoáng, bình đẳng của Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị định số 78/2006/NĐ-CP. Thông qua việc phân tích thực trạng thực thi gắn liền với số liệu thống kê chính thống và chỉ ra các rào cản thể chế, công trình đã đề xuất hệ thống 7 kiến nghị lập pháp và 6 giải pháp thực thi có tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế đối ngoại của Việt Nam.