CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số vấn đề chung về đầu tư và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Đầu tư Theo nhà kinh tế học P.A Samuelson: “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của DN như máy móc, thiết bị nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho.
Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh…” [20,6] Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận”. [20,6] Theo từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2005: “Đầu tư là bỏ vốn vào một DN, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm trang thiết bị, xây dựng mới hoặc hiện đại hóa mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hoặc phát triển phúc lợi công cộng”. [23] Theo Luật đầu tư của Quốc hội nước CHXHCNVN 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014: "Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư". [15,2] Như vậy, có thể hiểu đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn (tiền, nguyên vật liệu, công nghệ, con người.) vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận và phát triển phúc lợi công cộng.
Vốn đầu tư - Vốn đầu tư là toàn bộ giá trị của tất cả các yếu tố (tiền tệ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kinh doanh, bằng phát minh sáng chế…) được bỏ vào đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã dự định. Theo Luật đầu tư của Quốc hội nước CHXHCNVN 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 thì: “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. [15,3] - Các nguồn hình thành vốn đầu tư: + Tiết kiệm trong nước: Tiết kiệm chính phủ: Bao gồm tiết kiệm của ngân sách nhà nước và tiết kiệm từ các công ty nhà nước. Về nguyên tắc, tiết kiệm chính phủ được tính bằng cách lấy tổng số thu nhập trừ đi các khoản chi tiêu.
Nguồn chi ngân sách cho đầu tư theo nguyên tắc cấp phát không hoàn lãi, nó thể hiện sức mạnh nội lực quốc gia. Hướng ưu tiên chủ yếu của nguồn vốn này là dành cho các dự án đầu tư công cộng, kết cấu hạ tầng, phát triển mũi nhọn, phát triển nguồn nhân lực hoặc đầu tư cho các ngành, vùng hay khu vực khó khăn. Tiết kiệm của các công ty: Tiết kiệm của các công ty được xác định trên cơ sở doanh thu của công ty và các khoản chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiết kiệm của dân cư: Tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình.
Thị trường vốn: Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung các nguồn vốn trung và dài hạn cho các chủ đầu tư - bao gồm cả Nhà nước và các loại hình DN. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các DN, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy động nào có thể làm được.
8 + Tiết kiệm ngoài nước: Nguồn tiết kiệm ngoài nước đó chính là khoản đầu tư nước ngoài hay là đầu tư quốc tế. Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã hội nhất định. Về bản chất, đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược xâu nhập, chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài hiện nay.
Vốn nước ngoài được huy động thông qua các hình thức cơ bản sau: Viện trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA) Nguồn vốn ODA là nguồn tài chính do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước hoặc của một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này. Nội dung viện trợ của ODA bao gồm: viện trợ không hoàn lại (thường chiếm 25% tổng vốn ODA); viện trợ hỗn hợp; viện trợ có hoàn lại. Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế.
Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoả thuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc. Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (Non-governmental organization - NGO) Viện trợ NGO thường là viện trợ không hoàn lại, trước đây loại viện trợ này chủ yếu là vật chất đáp ứng những nhu cầu nhân đạo như cung cấp thuốc men cho những trung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho những nạn nhân thiên tai. Hiện nay loại viện trợ này được thực hiện nhiều hơn bằng những chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia. [11,219] 9 Nguồn vốn tín dụng thương mại Tín dụng thương mại là nguồn vốn mà các nước nhận vốn sau một thời gian phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho các nước vay.
Các nước cho vay vốn thu lợi nhuận thông qua lãi suất tiền vay. [11,220] Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động đầu tư này có thể được thực hiện dưới các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. [11,199-200] Theo quan điểm của Lênin, đặc điểm cơ bản của Chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tranh là xuất khẩu hàng hoá, còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền là xuất khẩu tư bản.
Ông cho rằng, tư bản tài chính trong quá trình phát triển đã xuất hiện hiện tượng “tư bản thừa”, thừa so với tỉ suất lợi nhuận thấp nếu phải đầu tư trong nước, còn nếu đầu tư ra bên ngoài thì tỉ suất lợi nhuận sẽ cao hơn. Theo ông: “Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn là chủ nghĩa tư bản, số tư bản thừa không phải dùng để nâng cao mức sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế sẽ làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản - mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu. Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ”. [20,7] Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tổ chức kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một DN đặt tại một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý DN đặt tại nền kinh tế đó. [10,86] Theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc DN 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này. [14,1] 10 Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co- operation and Development - OECD) trong tài liệu "Định nghĩa chuẩn của OECD về FDI", nêu rõ: đầu tư trực tiếp nước ngoài phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư. Theo quan niệm thông thường được đưa vào trong giáo trình giảng dạy về kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế, FDI có đặc điểm là việc di chuyển vốn quốc tế không tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, nhà đầu tư nước ngoài có tiếng nói trực tiếp trong quản lý có kèm theo di chuyển tài sản như máy móc, thiết bị, công nghệ, kỹ năng quản lý.
Qua một số định nghĩa về FDI, có thể thấy rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư, trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sử dụng vốn đầu tư là một chủ thể, có nghĩa là các DN, các cá nhân người nước ngoài trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đó bỏ ra. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Thu hút vốn đầu tư nói chung: Theo tác giả Nguyễn Tăng Huy, "Thu hút vốn đầu tư là những hoạt động, những chính sách của chính quyền, cộng đồng DN và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện mục đích đầu tư phát triển".