Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo Chương 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực CNCB-CT tại Việt Nam Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực CNCB-CT tại Việt Nam. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN CHẾ TẠO. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm Theo UNCTAD (Hội nghị liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển) xác định, FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát 12 lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) của một đất nước trong một doanh nghiệp (chi nhánh ở nước ngoài) ở một nước khác.
Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy. Theo tổ chức thương mại thế giới WTO định nghĩa như sau về FDI: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) với quyền quản lý tài sản đó”. Khái niệm này nhấn mạnh rằng FDI là một tài sản. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Tóm lại, có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là quá trình khi một cá nhân hoặc một doanh nghiệp đầu tư tiền, tài sản hoặc nguồn lực khác vào hoạt động kinh doanh hoặc dự án tại một quốc gia khác nằm ngoài quốc gia sở tại của cá nhân, doanh nghiệp đó. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 2.
Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận đầu tư). Là một pháp 13 nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2023, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.
Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Đây là hình thức FDI trong đó nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tại quốc gia khác hình thành một mạng lưới riêng và cùng đầu tư vào cùng một dự án.
Các bên tham gia có thể chia sẻ lợi ích chung với nhau nhưng cũng phải chịu rủi ro, quyền kiểm soát cũng như sự ràng buộc lẫn nhau. Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như Việt Nam từ trước tới nay. Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại.
Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước 14 ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu.
Đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu Đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu là một trong những hình thức đầu tư phổ biến nhất và thường được các nhà đầu tư nước ngoài áp dụng. Trong đó, nhà đầu tư từ một quốc gia quyết định lựa chọn mua cổ phần hoặc cổ phiếu của một doanh nghiệp tại một quốc gia khác và họ trở thành một cổ đông của công ty, doanh nghiệp đó. Việc mua cổ phần này có thể giúp cho các nhà đầu tư nắm giữ quyền kiểm soát quản lý hoặc chỉ đơn thuần là tham gia vào quá trình vận hành và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khi mua cổ phần đa số, nhà đầu tư có quyền kiểm soát và ảnh hưởng lớn đến với quyết định kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp; cho phép nhà đầu tư tham gia vào quyết định xây dựng chiến lược, quản lý, và hoạt động thường niên của doanh nghiệp.
Nhà đầu tư sẽ được chia sẻ lợi nhuận và tăng trưởng của doanh nghiệp tùy theo tỷ lệ góp vốn sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm với rủi ro tài chính dựa trên phân chia tỷ lệ này; nếu doanh nghiệp gặp khó khăn, hiệu suất giảm, kinh doanh lỗ vốn hoặc không đạt được mục tiêu kỳ vọng thì nhà đầu tư phải chịu thiệt hại tài chính về chính bản thân mình. Không chỉ vậy, nhà đầu tư có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác như: rủi ro tài chính và chính trị; chính sách pháp luật và quản lý tại mỗi quốc gia vì điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của chủ đầu tư. Sáp nhập, mua lại doanh nghiệp Sáp nhập doanh nghiệp là một hoặc một số công ty (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. 15 Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại.
Sáp nhập và mua lại đều có ưu điểm là giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận thị trường, tiếp cận công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý; tận dụng được hệ thống khách hàng; gia tăng thị phần và giá trị doanh nghiệp; đáp ứng mục tiêu tăng vốn, mở rộng quy mô cạnh tranh và đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô; thu hút nhân sự giỏi và tránh nguy cơ phá sản. Nhưng bên cạnh đó xảy ra một số hạn chế như quyền lợi của các cổ đông thiểu số thường bị ảnh hưởng; xung đột mâu thuẫn giữa các cổ đông lớn, văn hóa doanh nghiệp bị pha trộn và xu hướng chuyển dịch nguồn nhân sự. Thành lập chi nhánh hoặc công ty con Nhà đầu tư thành lập nên một chi nhánh hoặc một công ty con ở quốc gia khác để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm xâm nhập thị trường, chiếm lĩnh thị phần và mở rộng hoạt động kinh doanh trên vùng lãnh thổ khác. Chi nhánh là một phần mở rộng của công ty mẹ, là 1 đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân độc lập.
Chi nhánh hoạt động dưới sự điều hành của công ty mẹ và không có tính tự chủ về tài chính hay hoạt động kinh doanh. Chức năng hoạt động của chi nhánh giống như một công ty thu nhỏ có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp. Công ty con là một pháp nhân độc lập được thành lập dưới sự kiểm soát của công ty mẹ.