CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4. Tổng quan về FDI 1. Khái niệm Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) là nhà đầu tư ở một nước khác sử dụng tiền hoặc bất cứ tài sản có giá trị nào đầu tư vào một quốc gia khác để được quyền quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận. FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Foreign Direct Investmen” và được dịch sang tiếng Việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Có nhiều khái niệm về FDI như sau: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993) định nghĩa FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996): Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, có thể thực hiện bằng các cách như: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm).
Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. Dunning (1970) sử dụng một định nghĩa ngắn cho các công ty đa quốc gia (MNEs) là: bất cứ công ty thực hiện hoạt động sản xuất tại nhiều hơn một quốc gia. Những người khác, chẳng hạn như Vernon (1971) đã nhấn mạnh thêm vấn đề quy mô và cơ cấu tổ chức của các MNEs. Cụ thể, Các tập đoàn đa quốc gia là các công Luan van 10 ty lớn tổ chức các hoạt động của họ ở nước ngoài thông qua một bộ phận tổ chức tích hợp, được lan truyền quốc tế và việc đầu tư của họ được dựa trên các sản phẩm và thị trường tiêu thụ.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
(WTO, 1996) Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật nhà nước. Như vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế; và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư.
Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”. Lý thuyết đã chỉ ra rằng FDI thường được hình thành và sinh ra từ sự tương tác giữa lực lượng của nước chủ đầu tư và nước thu hút (Dunning, 1981; UNCTAD, 2006). Dòng vốn FDI sẽ chảy từ nước này sang nước khác và FDI xảy ra có thể chung quy là do ảnh hưởng của các yếu tố đẩy từ nước chủ đầu tư và yếu tố kéo của nước thu hút. Một số yếu tố trong nước chủ đầu tư có xu hướng tạo động Luan van 11 lực thúc đẩy hành vi đầu tư ra bên ngoài của FDI nhằm tìm kiếm một thị trường tiềm năng hơn hay tăng hiệu quả kinh doanh với chi phí sản xuất thấp hơn ở nước thu hút.
Từ các góc nhìn khác nhau về khái niệm FDI, có thể thấy “FDI là loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, tự thiết lập các cơ sở sản xuất kinh doanh cho riêng mình, đúng chủ sở hữu, tự quản lý, khai thác hoặc thuê người quản lý, khai thác cơ sở này, hoặc hợp tác với đối tác nước sở tại thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh và tham gia quản lý, cùng với đối tác nước sở tại chia sẻ lợi nhuận và rủi ro”. Các đặc điểm của FDI Một số đặc điểm của FDI bao gồm: Thứ nhất, Đầu tư với mục đích tìm kiếm lợi nhuận: Nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào nước nhận đầu tư với mục đích chủ đạo là tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì vậy, các nước tiếp nhận đầu tư phải xây dựng chính sách cũng như pháp luật đủ mạnh để hướng FDI phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nước mình chứ không phải là chỉ tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư nước ngoài. Thứ hai, các chủ đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước nhận đầu tư phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn điều lệ hay vốn pháp định theo quy định của từng nước để giành quyền kiểm soát.
Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy định quyền và lợi nhuận của các bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng dựa trên tỷ lệ này. Thứ ba, chủ đầu tư nước ngoài tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Họ được quyền tự lựa chọn hình thức đầu tư, quy mô đầu tư, thị trường đầu tư, công nghệ sẽ sử dụng, do đó sẽ họ sẽ được lựa chọn để đưa ra những quyết định lựa chọn tốt nhất cho họ. Thứ tư, dựa vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, thu nhập mà chủ doanh nghiệp thu được chính là lợi nhuận, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.
Luan van 12 Thứ năm, thông qua hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội để tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, công nghệ quản lý. Các nhân tố thúc đẩy FDI Theo UNCTAD (2006) các nhân tố và điều kiện đẩy – kéo FDI được thể hiện trong bảng dưới đây: Bảng 1.1: Nhân tố và điều kiện đẩy – kéo FDI Nhân tố “Đẩy” – Nước chủ đầu Nhân tố “Kéo” – Nước tư thu hút Thị trường nước chủ đầu tư hạn Thị trường lớn và phát triển Thị trường và chế buộc công ty phải tìm kiếm là điều kiện tốt để thu hút Thương mại một thị trường mới. Sự khan hiếm các yếu tố đầu vào Nguồn lực tài nguyên sẵn như nguồn tài nguyên, chi phí lao có, chi phí lao động thấp Chi phí sản xuất động cao gây ra xu hướng đầu tư giúp giảm chi phí sản xuất ra nước ngoài nên sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Xu hướng toàn cầu hóa và áp lực Những Hiệp ước thương cạnh tranh từ các doanh nghiệp mại, Đầu tư song phương, Doanh nghiệp địa phương là động lực tác động đa phương tạo điều kiện địa phương công ty tìm kiếm thị trường nước thuận lợi cho vốn đầu tư ngoài.
Chính sách hỗ trợ như cắt giảm Chính sách ưu đãi thu hút chi phí, nâng cao các khả năng đầu tư như chính sách tự do hoạt động doanh nghiệp. hóa và tư nhân hóa, ổn định Thể chế chính trị, quản trị minh bạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, quyền sở hữu, v.v… (Nguồn: UNCTAD, 2006) Như vậy, FDI có thể xảy ra theo xu hướng tác động của cả hai nhóm yếu tố: yếu tố “đẩy” của nước chủ đầu tư và yếu tố “kéo” của nước thu hút cùng với sự Luan van 13 quan tâm từ cả hai phía chính phủ của các quốc gia này. Các chính sách ưu đãi vốn đầu tư nước ngoài được đưa ra bởi nước sở tại để thu hút vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu chỉ dựa trên các yếu tố có lợi thế cạnh tranh cao, chẳng hạn như sự sẵn có của nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc hứa hẹn lợi nhuận đầu tư cao hơn từ chi phí sản xuất thấp hơn. Tuy nhiên, những chính sách khuyến khích đơn giản như vậy thường không đủ và ít có tác động tốt trong việc thúc đẩy thu hút hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài.
Nước chủ đầu tư, tốt hơn hết, nên mở rộng sự hiểu biết của mình với một danh sách mở rộng hơn các yếu tố thúc đẩy hoặc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, trong khi đó nước thu hút cần tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hiệu quả. Cuối cùng tác động hỗ trợ từ cả hai phía hình thành những đặc điểm tiềm năng của dòng vốn FDI trong tương lai. Một chính sách khuyến khích phải được xây dựng với sự cân nhắc và nghiên cứu đầy đủ nhằm thu hút tối ưu hóa số lượng và chất lượng FDI. Ngoài các nhân tố trên, có thể thấy các nhân tố thúc đẩy FDI được nhìn dưới góc cạnh khác như: Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: giữa các nước luôn tồn tại sự khác biệt về năng suất cận biên của vốn.
Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, trong khi một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận.