mở đầu thúc đẩy phát triển một khu vực kinh tế trọng điểm thì nguồn vốn đầu tư ban đầu thường mang lại lợi ích thấp hoặc không có lợi ích. Như vậy nguồn vốn đầu tư ban đầu thường do Nhà nước đầu tư. Bên cạnh đó, để thúc đẩy kinh tế phát triển, giảm sức ép về nguồn vốn Nhà nước, tận dụng tối đa nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức tập thể, cá nhân trong và ngoài nước, có thể sử dụng hình thức đầu tư như BOT, BT, BTO… Theo cách phân tích như trên việc phân nhóm dự án theo nguồn vốn chủ yếu gồm 2 hình thức như sau: 12 - Vốn ngân sách: Trong đó bao gồm tất cả các nguồn vốn có sự đầu tư đóng góp của Nhà nước bao gồm: Vốn ngân sách, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp Nhà nước… với mục đích đầu tư là phát triển kinh tế xã hội. - Vốn xã hội hóa: Thường do các tổ chức, tập đoàn, kinh tế tư nhân đầu tư xây dựng thông qua các hình thức đầu tư như BOT, BT, BTO… với mong muốn đầu tư để sinh lợi trên cơ sở những yêu cầu bắt buộc của Nhà nước hoặc khu vực xây dựng dự án… Các hình thức đầu tư vừa nêu có thể hiểu như sau: Hợp đồng BOT (Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao) loại hình hợp đồng này được ký giữa cơ quan Nhà nước và Nhà đầu tư để xây dựng (B) kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền khai thác, kinh doanh (O) công trình đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
Hết thời gian nêu trên, nhà đầu tư phải chuyển giao (T) công trình cho Nhà nước [20]. Hợp đồng BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh) là Hợp đồng được ký giữa Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và Nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; Sau khi xây dựng xong, Nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính 13 phủ dành cho Nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận [20]. - Nhận xét về việc phân nhóm dự án: Trên cơ sở phân tích như trên, việc phân nhóm dự án giao thông theo nguồn vốn đầu tư cũng khá đa dạng, bằng những thực tiễn trong công tác quản lý dự án và trong phạm vi giới hạn của luận văn học viên xin được quan tâm đến một số nhóm dự án theo nguồn vốn như sau: * Vốn ngân sách nhà nước. * Vốn trái phiếu chính phủ.
* Vốn vay ODA. * Vốn xã hội hóa: BT, BOT, BTO.2 Tổng quan về phân tích kinh tế, phân tích tài chính: Nội dung này giới thiệu sơ bộ một số khái niệm liên quan tới phân tích kinh tế, phân tích tài chính của dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông. Nội dung tính toán chi tiết các dòng thu chi khi thực hiện công tác phân tích trên sẽ được trình bày trong chương 2 của luận văn này.1 Nội dung phân tích tài chính: 1.1 Khái niệm: Phân tích tài chính một dự án đầu tư là một tiến trình chọn lọc, tìm hiểu về tương quan của các chỉ tiêu tài chính và đánh giá tình hình tài chính về một dự án đầu tư nhằm giúp các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư có hiệu quả [3].2 Mục đích của việc phân tích tài chính: Phân tích tài chính luôn diễn ra từ bước lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình cho đến khi đưa công trình vào vận hành. Đánh giá tài chính dự án có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư mà còn cả đối với cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tài trợ vốn cho dự án [3].
Đối với chủ đầu tư: - Phân tích tài chính sẽ giúp họ nhìn thấy những bước tiến triển của dự án để họ đưa ra các biện pháp thích hợp bằng cách dự tính trước các phương án khác nhau và lựa chọn được phương án cụ thể cho dự án của mình. - Thấy được hiệu quả của dự án thông qua việc so sánh giữa mọi nguồn thu của dự án với tổng chi phí hợp lý của dự án (cả chi phí đột xuất). - Phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư dự tính được cho tương lai khi có sự thay đổi về thu nhập và chi phí để kịp thời điều chỉnh và rút kinh nghiệm. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Phân tích tài chính là một trong những căn cứ để các cơ quan này xem xét cấp phép đầu tư đối với các dự án không sử dụng vốn Nhà nước và quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước.
Đối với nhà tài trợ: Căn cứ vào kết quả phân tích tài chính để đưa ra các quyết định tài trợ tiền (đầu tư vốn) tiếp nữa hay không. Nếu vay và trả nợ đúng cam kết thì lần sau vay sẽ dễ dàng hơn và chứng tỏ sự thành công của dự án. Ngoài ra, các số liệu phân tích tài chính phục vụ đánh giá tài chính là cơ sở để tiến hành đánh giá kinh tế - xã hội thông qua xử lý điều chỉnh giá.3 Hệ thống các chỉ tiêu phục vụ phân tích tài chính: Ở Việt Nam trong thời gian qua, hầu hết các phương pháp phân tích tài chính đã sử dụng để phân tích các dự án xây dựng công trình giao thông đều được sử dụng các nhóm chỉ tiêu động (có tính tới sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian tức là có chiết khấu)[4]. Các chỉ tiêu tính toán trong phân tích tài chính là: - Về chỉ tiêu hiệu số thu chi: Sử dụng chỉ tiêu hiệu số thu chi qui về thời điểm hiện tại (NPV) hoặc có thể sử dụng chỉ tiêu hiệu số thu chi qui về thời 15 điểm tương lai (NFV) hoặc chỉ tiêu hiệu số thu chi qui san đều hằng năm (NAV).
- Chỉ tiêu suất thu lời nội tại (IRR). - Chỉ tiêu tỷ số thu chi (B/C). - Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn bằng phương pháp hiện giá (Thv). + Chỉ tiêu suất thu lời nội tại (IRR).
+ Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn bằng phương pháp hiện giá (Thv). Với các chỉ tiêu đã nêu trên đều dùng để phục vụ phân tích tài chính của dự án đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu nào để tính toán phụ thuộc vào từng loại dự án, mục tiêu đề ra của dự án đó. Chẳng hạn như chỉ tiêu B/C thường sử dụng tính toán đối với các dự án phục vụ công cộng vì nhà nước không đặt ra mục tiêu là lợi nhuận [3].
Hay khi có nhiều dự án để chọn lựa, nếu nhà đầu tư có vốn dồi dào thì chỉ tiêu NPV sẽ được sử dụng để tính toán, chỉ tiêu NPV của dự án nào lớn nhất thì sẽ được chọn, vì lúc này vốn đầu tư không phải là vấn đề quan tâm; Còn nếu nhà đầu tư muốn sử dụng vốn mình có hiệu quả nhất, và nền kinh tế đang phát triển, có nhiều dự án tốt để đầu tư thì dự án nào có IRR lớn hơn sẽ được chọn. Đối với chỉ tiêu thời gian hoàn vốn chỉ cho ta biết dự án đến khi nào thu hồi vốn nhưng không cho ta biết dự án đó có hiệu quả, có lãi không, sinh lợi thế nào. Do đó chỉ tiêu này thường sử dụng với các chỉ tiêu khác [5]. Tóm lại, khi phân tích tài chính của dự án đầu tư xây dựng thông thường vẫn hay sử dụng các chỉ tiêu sau để tính toán: + Chỉ tiêu hiệu số thu chi qui về thời điểm hiện tại (NPV) + Chỉ tiêu suất thu lời nội tại (IRR).
+ Chỉ tiêu tỷ số thu chi B/C 16 + Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn bằng phương pháp hiện giá (Thv). Còn việc lựa chọn các chỉ tiêu nào phù hợp để tính toán phụ thuộc vào loại dự án, mục tiêu của dự án, hình thức đầu tư, nguồn vốn. Điều này sẽ được làm sáng tỏ ở các chương tiếp theo của luận văn.2 Nội dung phân tích kinh tế - xã hội: Đánh giá kinh tế - xã hội cho ta các thông tin về các tác động của dự án đối với nền kinh tế và với xã hội. Tức là cho biết dự án đem lại lợi ích và thiệt hại như thế nào cho nền kinh tế và xã hội.
Để nhìn nhận một cách tổng quan về nội dung phân tích kinh tế xã hội trong thời gian qua, ta tìm hiểu các vấn đề sau: Khái niệm phân tích kinh tế - xã hội: Theo [3], phân tích kinh tế xã hội là tập hợp phương pháp phân tích và tính toán khoa học xác định mức độ tác động của dự án (nhưng ở mức độ khác với phân tích tài chính) đến nền kinh tế quốc dân, cộng đồng xã hội, đến khu vực địa phương nơi xây dựng dự án, đến những lợi ích quốc gia khác. Phân tích kinh tế sử dụng giá “mờ” để định lượng các chi phí và lợi ích. Có một số phương pháp phân tích kinh tế sau: Phân tích chi phí - lợi ích: Phương pháp này các chi phí và lợi ích đều có thể định lượng được bằng tiền. Phân tích chi phí - hiệu quả : Phương pháp này chi phí có thể định lượng được bằng tiền còn lợi ích không định lượng được bằng tiền.
Phân tích chi phí - tính thiết thực: Phương pháp này cả chi phí và lợi ích đều không định lượng được bằng tiền.1 Vai trò của Phân tích kinh tế - xã hội:[3] a. Đối với nhà đầu tư: Phân tích kinh tế - xã hội là căn cứ chủ yếu để thuyết phục Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, thuyết phục các ngân hàng cho 17 vay vốn, thuyết phục nhân dân địa phương đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư thực hiện dự án. Đối với Nhà nước: Phân tích kinh tế - xã hội là căn cứ chủ yếu để Nhà nước xét duyệt để cấp giấy phép đầu tư. Đối với các dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn thì phần phân tích lợi ích kinh tế - xã hội đóng vai trò chủ yếu trong dự án, loại dự án này hiện nay ở nước ta khá phổ biến và chiếm một nguồn vốn khá lớn.
Vì vậy việc phân tích kinh tế - xã hội của dự án luôn luôn giữ một vai trò quan trọng.