Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam dẫn đến việc bề mặt đất tự nhiên bị bê tông hóa và nhựa hóa trên diện rộng bằng các vật liệu đặc chắc như bê tông xi măng truyền thống, bê tông asphalt, gạch terrazzo, đá tự nhiên và đá nhân tạo. Hiện tượng này làm thay đổi chu trình thủy văn đô thị: trên bề mặt đất tự nhiên khi mưa xuống, có khoảng 50% lượng nước ngấm xuống nền đất và chỉ 10% chảy tràn; trong khi đó, tại các bề mặt đô thị hóa (75%–100% diện tích không thấm nước), lượng nước ngấm xuống đất giảm xuống còn 15% và lượng nước chảy tràn tập trung tăng vọt lên tới 55%.
Theo số liệu của Cục Quản lý tài nguyên nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, mực nước ngầm tại các đô thị lớn suy giảm trung bình 0,3 m/năm, gây sụt lún nền đất tại một số khu vực lên tới 2 cm/năm. Đồng thời, lượng nước mưa chảy tràn quá tải gây ngập úng cục bộ và làm mất đi lượng ẩm dự trữ dưới lòng đất, triệt tiêu khả năng bốc hơi làm mát tự nhiên trong những ngày nắng nóng.
Bê tông rỗng thoát nước (BTRTN - pervious concrete) là giải pháp vật liệu cho phép nước thấm xuyên qua hệ thống lỗ rỗng liên thông để bổ sung vào tầng nước ngầm, kiểm soát lưu lượng dòng chảy mặt và giảm tải cho hệ thống thoát nước đô thị. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất khiến BTRTN chưa được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam là cường độ chịu lực thấp, hiện tượng lắng đọng hồ xi măng làm bít tắc lỗ rỗng trong quá trình tạo hình, khả năng chống mài mòn và bong tróc bề mặt kém, cùng với việc thiếu các chỉ dẫn kỹ thuật và tiêu chuẩn thiết kế cấp phối từ nguyên vật liệu sẵn có trong nước.
Mục tiêu và câu hỏi/luận điểm nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của luận án gồm:
- Chế tạo thành công BTRTN từ nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại Việt Nam (xi măng, đá dăm, cát vàng, tro bay nhiệt điện, silica fume, phụ gia hóa học và nước), đạt cường độ nén 28 ngày $R_{n}^{28} \ge 20,0\text{ MPa}$ và hệ số thoát nước $K_t \ge 4,0\text{ mm/s}$.
- Xác định các quy luật khoa học về ảnh hưởng của thành phần chất kết dính, độ nhớt của hồ, độ rỗng và sự phân bố lỗ rỗng đến các tính chất cơ lý, thủy lực của BTRTN.
- Thử nghiệm ứng dụng BTRTN vào một số kết cấu công trình giao thông thực tế: lớp áo mặt đường giao thông cấp IV, bãi đỗ xe và đường đi bộ.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết 3 luận điểm khoa học chính:
- Luận điểm 1: Trong BTRTN, độ nhớt của hồ chất kết dính (CKD) đóng vai trò quyết định cấu trúc rỗng; độ nhớt liên hệ trực tiếp với chiều dày lớn nhất của màng hồ CKD bọc xung quanh hạt cốt liệu lớn ($\delta_{max}$), ngăn chặn hiện tượng chảy xệ và lắng tách hồ xuống đáy mẫu.
- Luận điểm 2: Để bảo đảm đồng thời độ rỗng, hệ số thoát nước và cường độ chịu lực theo thiết kế, cần xác định chính xác độ nhớt, cường độ đá CKD và hàm lượng hồ CKD thích hợp.
- Luận điểm 3: Kích thước và sự phân bố lỗ rỗng trong BTRTN phụ thuộc vào thành phần hạt cốt liệu lớn (CLL), lượng dùng và độ nhớt của CKD. Việc đưa một lượng nhỏ cốt liệu nhỏ (CLN) vào thành phần cấp phối sẽ làm giảm kích thước lỗ rỗng, phân bố lỗ rỗng đồng đều hơn theo chiều cao, làm tăng cường độ chịu lực nhưng làm giảm hệ số thoát nước của bê tông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hỗn hợp BTRTN, bê tông rỗng thoát nước đã đóng rắn và các kết cấu ứng dụng BTRTN trong công trình giao thông.
- Phạm vi vật liệu: Xi măng poóc lăng PC40 Bút Sơn; cốt liệu lớn là đá dăm cỡ hạt (5–10) mm và (10–20) mm; cốt liệu nhỏ là cát vàng; phụ gia khoáng gồm tro bay (FA) từ Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại và silica fume (SF); phụ gia siêu dẻo giảm nước và nước sinh hoạt.
- Phạm vi thông số kỹ thuật: Tính công tác, khối lượng thể tích, độ rỗng, phân bố độ rỗng theo chiều cao, cường độ nén, cường độ kéo khi uốn, cường độ kéo ép chẻ, độ co ngót và hệ số thoát nước.
- Phạm vi ứng dụng: Kết cấu áo mặt đường giao thông cấp IV, bãi đỗ xe và đường dạo bộ dưới 2 dạng: bê tông đổ tại chỗ và gạch block tự chèn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước
Luận án đã hệ thống hóa lịch sử phát triển và các kết quả nghiên cứu tiêu biểu về BTRTN trên thế giới và tại Việt Nam:
TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN BTRTN
Thế kỷ 19 - 1940: Ứng dụng tại Anh, Châu Âu (tiết kiệm xi măng)
Thập niên 1970: Mỹ (Florida, Utah) ứng dụng thoát nước lũ bão
Nghiên cứu cơ bản: ACI, Missouri-Kansas (định nghĩa, cấp phối, đầm lèn)
Nghiên cứu độ bền: Ghafoori & Dutta (co ngót, ăn mòn); Naik (băng giá)
Nghiên cứu tắc nghẽn: Haselbach (mô hình keff); Mallen (thực địa 21 tháng)
Việt Nam (2008-nay): Nguyễn Văn Chánh, ĐH Xây dựng (thực nghiệm quy mô nhỏ)
Luận án (2021): Kiểm soát độ nhớt hồ CKD, tối ưu hóa đa cấu tử PC+FA+SF
- Lịch sử ứng dụng: BTRTN được sử dụng lần đầu tiên tại Anh vào năm 1852 để xây dựng nhà dân dụng với cấp phối gồm xi măng và sỏi; năm 1923 được dùng xây dựng 50 ngôi nhà tại Edinburgh (Scotland), sau đó lan rộng sang Liverpool, London, Manchester với hơn 900 ngôi nhà được xây dựng vào những năm 1940 nhằm mục đích giảm lượng dùng xi măng sau chiến tranh. Từ thập niên 1970, Mỹ (đặc biệt là bang Florida, Utah, New Mexico) bắt đầu áp dụng BTRTN để xử lý ngập úng do bão nhiệt đới và thoát nước tuyết tan.
- Tài liệu hướng dẫn và tiêu chuẩn quốc tế: Viện Bê tông Hoa Kỳ (ACI) [75] và cuốn Sổ tay BTRTN của Đại học Missouri - Kansas (Tennis và cộng sự) [104] xác định BTRTN là loại bê tông cơ bản không có độ sụt, sử dụng cấp phối hạt gián đoạn, có độ rỗng 15%–35%, cường độ nén 2,8–28,0 MPa, hệ số thoát nước từ 81 đến 730 lít/m²/phút (tương đương 1,35–12,17 mm/s).
- Nghiên cứu về co ngót và độ bền: Ghafoori và Dutta [42] chỉ ra độ co ngót của BTRTN đạt khoảng 200 µm/m (bằng một nửa bê tông thông thường), co ngót diễn ra nhanh trong 10 ngày đầu (50%–80% tổng độ co) do bề mặt tiếp xúc lớn. Nghiên cứu của Naik và Kraus [66] chứng minh việc bổ sung cát hoặc bột cao su giúp tăng độ bền băng giá (thử nghiệm theo ASTM C665) và đánh giá độ bền sunphat theo ASTM C1012. Cristián Gaedicke và Hussein [64] khảo sát độ mài mòn theo ASTM C944, chứng minh độ rỗng càng lớn thì độ bong tróc bề mặt càng cao.
- Nghiên cứu về hiện tượng tắc nghẽn và mô hình dòng thấm: Mallen [71] theo dõi thực địa tại khu đô thị Kogarah (Sydney, Úc) trong 21 tháng, ghi nhận hệ số thoát nước giảm tới 97% nếu không được bảo dưỡng định kỳ. Haselbach và cộng sự [77] thiết lập công thức xác định hệ số thoát nước hiệu dụng $k_{eff}$ khi bề mặt bị cát bít kín:
$$k_{eff} = \left(\frac{A_P}{A_B}\right) \cdot k_{sand}$$
(Trong đó $A_P$ là diện tích lỗ rỗng, $A_B$ là tổng diện tích bề mặt, $k_{sand}$ là hệ số thoát nước của cát; hệ số thoát nước thực tế giảm từ 2,0 mm/s xuống 0,4 mm/s khi bị cát phủ).
- Nghiên cứu về phụ gia khoáng: Saeid Hesami [23] nghiên cứu sử dụng tro trấu (RHA); các công trình của Mehta và Aïtcin [78] làm rõ cơ chế hiệu ứng điền đầy và hiệu ứng puzolanic của các hạt mịn hoạt tính trong việc cải thiện vùng chuyển tiếp tiếp xúc (ITZ) giữa đá xi măng và cốt liệu.
- Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Tác giả Nguyễn Văn Chánh (2008) tại Đại học Bách khoa TP.HCM bước đầu chế tạo bê tông rỗng cho đô thị ở quy mô phòng thí nghiệm [3]. Năm 2012, Khoa Vật liệu Xây dựng – Trường Đại học Xây dựng đã tham gia thiết kế thử nghiệm BTRTN cho bãi đỗ xe siêu thị BigC Bình Dương. Các viện nghiên cứu và trường đại học khác cũng có một số nghiên cứu thử nghiệm nhưng cường độ bê tông chưa cao, độ đồng đều chưa ổn định và chưa có hệ thống đánh giá cấu trúc rỗng chi tiết.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn
Luận án tập trung giải quyết bài toán mâu thuẫn cốt lõi: nâng cao cường độ chịu nén ($R_n \ge 20\text{ MPa}$) để đáp ứng yêu cầu tải trọng mặt đường giao thông nhưng vẫn duy trì hệ số thoát nước cao ($K_t \ge 4\text{ mm/s}$). Luận án đi sâu vào việc kiểm soát độ nhớt của hồ CKD để ngăn ngừa hiện tượng lắng đọng hồ, làm chủ cơ chế bọc màng hồ $\delta_{max}$ quanh hạt cốt liệu và ứng dụng công nghệ phân tích hình ảnh để định lượng cấu trúc rỗng theo chiều cao phân lớp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình tính toán
- Cơ sở hình học sắp xếp hạt: Phân tích mô hình tiếp xúc hạt hình cầu theo các cấu trúc đơn cấp hạt và đa cấp hạt. Độ rỗng của khung cốt liệu phụ thuộc vào số điểm tiếp xúc giữa các hạt; việc sử dụng cốt liệu đơn cấp tạo ra khung rỗng hở liên tục tối ưu cho dòng thấm.
- Cơ sở hình thành cường độ: Cường độ nén của BTRTN được quyết định bởi 3 yếu tố: cường độ bản thân đá CKD, diện tích tiếp xúc dính kết tại các điểm nối hạt cốt liệu và chiều dày lớp màng hồ bọc quanh hạt ($\delta_{max}$).
- Cơ chế hóa - lý của phụ gia khoáng đa cấu tử: Sự kết hợp giữa xi măng poóc lăng, silica fume (SF) và tro bay (FA) kích hoạt phản ứng puzolanic với $Ca(OH)_2$ sinh ra trong quá trình thủy hóa xi măng, tạo thành khoáng C-S-H có mật độ cao, điền đầy lỗ rỗng vi mô trong đá CKD và làm bền vững cấu trúc vùng ITZ.
| Thành phần vật liệu |
Vai trò kỹ thuật trong BTRTN |
| Xi măng PC40 Bút Sơn |
Tạo cường độ kết dính nền ban đầu |
| Tro bay (FA) Phả Lại |
Tăng độ chảy dẻo của hồ, đóng góp cường độ tuổi dài ngày |
| Silica fume (SF) |
Siêu mịn (0,03–0,3 µm), tăng độ nhớt chống tách hồ, tăng cường độ sớm |
| Đá dăm (5–10 mm / 10–20 mm) |
Khung chịu lực chính, tạo mạng lưới lỗ rỗng liên thông |
| Cát vàng (CLN: 0%–10%) |
Chèn điểm tiếp xúc, gia cường diện tích liên kết hạt |
| Phụ gia siêu dẻo |
Giảm tỷ lệ N/CKD, bảo đảm độ linh động của hồ CKD đặc chắc |
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp tiêu chuẩn và phi tiêu chuẩn:
- Phương pháp tiêu chuẩn:
- Đánh giá cơ lý xi măng, cốt liệu theo hệ thống TCVN và ASTM C33.
- Thử nghiệm cường độ chịu nén mẫu trụ theo ASTM C39.
- Thử nghiệm cường độ kéo khi uốn mẫu dầm và cường độ ép chẻ theo TCVN.
- Xác định độ mài mòn theo ASTM C944; hệ số thoát nước hiện trường theo ASTM C1701.
- Phương pháp phi tiêu chuẩn và kỹ thuật phân tích hiện đại:
- Đo độ nhớt hồ CKD: Sử dụng phễu côn Marsh và nhớt kế kiểu rung (Vibro viscometer V-10).
- Xác định chiều dày màng hồ lớn nhất ($\delta_{max}$): Phương pháp xác định lượng hồ dư thừa tách khỏi bề mặt hạt cốt liệu.
- Phân tích vi cấu trúc: Kính hiển vi điện tử quét (SEM) và nhiễu xạ tia X (XRD) để kiểm tra hình thái hạt và khoáng hóa của tro bay, silica fume.
- Phân tích cấu trúc rỗng: Phương pháp phân tích hình ảnh (Image Analysis) trên các mặt cắt ngang và cắt dọc của mẫu bê tông để đo kích thước lỗ rỗng, tỷ lệ diện tích lỗ rỗng và độ đồng đều theo chiều cao.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về bê tông rỗng thoát nước
Chương 1 tổng hợp các khái niệm khoa học, các tính chất kỹ thuật cốt lõi và thực tiễn ứng dụng BTRTN. Tác giả chỉ rõ BTRTN có tính công tác rất thấp (độ sụt $< 2\text{ cm}$), không thể đánh giá bằng côn sụt thông thường mà phải dựa trên phương pháp nắm tay trực quan: hỗn hợp đủ nước khi nắm thành hình cầu giữ nguyên khối, bề mặt có ánh kim của hồ nhưng không dính ướt tay. Khối lượng thể tích bê tông dao động từ 1500 đến 1800 kg/m³ (thuộc nhóm bê tông nhẹ).
Bảng lượng dùng vật liệu thông dụng được tác giả tổng hợp từ tài liệu quốc tế:
| TT |
Vật liệu |
Đơn vị |
Lượng dùng thông dụng [11, 104] |
| 1 |
Xi măng |
kg/m³ |
270 ÷ 415 |
| 2 |
Cốt liệu |
kg/m³ |
1190 ÷ 1480 |
| 3 |
Tỷ lệ N/X theo khối lượng |
- |
0,27 ÷ 0,34 |
| 4 |
Tỷ lệ CL/X theo khối lượng |
- |
4/1 ÷ 4,5/1 |
Chương này cũng phân loại 3 dạng lỗ rỗng trong BTRTN: lỗ rỗng trong đá CKD (lỗ rỗng gel 0,5–1,5 µm và mao quản 1,5–15 µm), lỗ rỗng trong cốt liệu, và lỗ rỗng giữa các hạt cốt liệu (kích thước lớn $> 1\text{ mm}$, là kênh dẫn nước chính). Các mô hình kết cấu thoát nước của bang Georgia và Florida (Mỹ) được phân tích làm cơ sở thiết kế hệ thống tầng lọc, bể chứa ngầm và ống dẫn nước rỗng.
Chương 2: Cơ sở khoa học chế tạo bê tông rỗng thoát nước
Chương 2 xây dựng cơ sở lý thuyết về việc hình thành cấu trúc rỗng và phát triển cường độ chịu lực. Tác giả chứng minh rằng đối với hệ đơn cấp hạt hình cầu, số điểm tiếp xúc và cách sắp xếp hình học chi phối trực tiếp đến độ rỗng liên thông. Khi lớp hồ CKD bọc quanh hạt cốt liệu có chiều dày vượt quá một ngưỡng nhất định ($\delta > \delta_{max}$), dưới tác dụng của trọng lực, hồ sẽ chảy xệ xuống đáy, làm bít kín các lỗ rỗng phía dưới và làm mất tính đồng nhất của bê tông.
Để nâng cao cường độ BTRTN mà không làm giảm độ rỗng thông thủy, giải pháp bắt buộc là nâng cao cường độ nén của bản thân đá CKD và cải thiện độ dính bám tại vùng ITZ thông qua việc phối hợp tỷ lệ tối ưu giữa xi măng, silica fume và tro bay, kết hợp phụ gia siêu dẻo để duy trì tỷ lệ N/CKD thấp. Đồng thời, chương này phân tích sự làm việc của tấm mặt đường bê tông xi măng chịu tải trọng trục xe và ứng suất nhiệt ẩm theo các quy định hiện hành của tiêu chuẩn thiết kế áo đường cứng tại Việt Nam.
Chương 3: Vật liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết các đặc tính kỹ thuật của vật liệu đầu vào và quy trình thực nghiệm. Tro bay Phả Lại có thành phần hạt mịn, chứa hàm lượng thủy tinh lớn thể hiện rõ qua biểu đồ nhiễu xạ XRD và ảnh chụp SEM dạng hình cầu trơn nhẵn. Silica fume có hàm lượng $SiO_2 > 85%$, kích thước hạt siêu mịn (0,03–0,3 µm).
Tác giả mô tả chi tiết thiết bị đo độ nhớt Vibro viscometer V-10, sơ đồ thí nghiệm xác định lượng hồ dư và quy trình phân tích hình ảnh trên các mặt cắt mẫu trụ $\phi 100 \times 200\text{ mm}$ và $\phi 150 \times 300\text{ mm}$.
QUY TRÌNH THÍ NGHIỆM ĐẶC THÙ TRONG LUẬN ÁN
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm với các kết quả định lượng:
- Lựa chọn chất kết dính: Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng SF (0%–15%) và FA (0%–30%) đến độ nhớt hồ và cường độ đá CKD. Kết quả xác định tổ hợp tối ưu là hỗn hợp gồm 70% xi măng PC40 + 20% tro bay + 10% silica fume (ký hiệu mẫu V69). Hỗn hợp này đạt cường độ nén đá CKD cao nhất ở tuổi 28 ngày và có độ nhớt phù hợp.
- Quan hệ giữa độ nhớt hồ CKD và chiều dày màng hồ ($\delta_{max}$): Khi độ nhớt của hồ CKD tăng, chiều dày $\delta_{max}$ giữ được trên bề mặt hạt tăng lên. Với cỡ hạt đá (5–10) mm và (10–20) mm, để bê tông có độ rỗng thiết kế trong khoảng 15%–30% mà không bị tách lắng hồ xuống đáy, độ nhớt của hồ CKD phải đạt giá trị tối thiểu lớn hơn $60\text{ mPa}\cdot\text{s}$ (trong văn bản ký hiệu là $60\text{ mmPa}$).
| Ký hiệu nhóm cấp phối |
Kích thước CLL (mm) |
Hàm lượng CLN cát (%) |
Độ rỗng thực tế (%) |
Cường độ nén 28 ngày (MPa) |
Hệ số thoát nước $K_t$ (mm/s) |
| D5C0 |
5 ÷ 10 |
0 |
20,2 ÷ 25,4 |
16,5 ÷ 22,3 |
6,2 ÷ 9,8 |
| D5C4 |
5 ÷ 10 |
4 |
19,1 ÷ 23,8 |
18,2 ÷ 24,1 |
5,5 ÷ 8,7 |
| D5C7 |
5 ÷ 10 |
7 |
18,0 ÷ 22,5 |
20,5 ÷ 26,8 |
4,8 ÷ 7,6 |
| D5C10 |
5 ÷ 10 |
10 |
16,8 ÷ 21,2 |
22,4 ÷ 28,5 |
4,1 ÷ 6,5 |
| D10C0 |
10 ÷ 20 |
0 |
22,1 ÷ 27,5 |
14,2 ÷ 19,8 |
7,8 ÷ 11,5 |
| D10C4 |
10 ÷ 20 |
4 |
20,8 ÷ 25,9 |
16,0 ÷ 21,5 |
6,9 ÷ 10,2 |
| D10C7 |
10 ÷ 20 |
7 |
19,5 ÷ 24,2 |
17,9 ÷ 23,4 |
5,8 ÷ 8,9 |
| D10C10 |
10 ÷ 20 |
10 |
18,2 ÷ 22,8 |
19,8 ÷ 25,1 |
5,0 ÷ 7,8 |
- Ảnh hưởng của cốt liệu nhỏ (CLN): Khi tăng tỷ lệ cát từ 0% lên 10% (các cấp phối D5C0 $\rightarrow$ D5C10 và D10C0 $\rightarrow$ D10C10), cường độ nén, cường độ kéo uốn và cường độ ép chẻ đều tăng từ 15% đến 25%; độ co ngót tăng nhẹ nhưng không đáng kể. Phương sai phân bố độ rỗng theo chiều cao giảm rõ rệt, chứng tỏ cấu trúc lỗ rỗng phân bố đều đặn hơn. Hệ số thoát nước giảm nhưng tại mức 10% cát, giá trị $K_t$ vẫn đạt từ 4,1 đến 7,8 mm/s, thỏa mãn yêu cầu thiết kế ($K_t \ge 4,0\text{ mm/s}$).
Chương 5: Thử nghiệm bê tông rỗng thoát nước trong công trình giao thông
Chương 5 hiện thực hóa kết quả nghiên cứu vào điều kiện thi công thực tế tại hiện trường:
- Lựa chọn kết cấu: Thiết kế 2 loại kết cấu gồm mặt đường BTRTN đổ tại chỗ dày 15 cm (đặt trên lớp móng đá dăm thoát nước dày 15 cm và vải địa kỹ thuật) và kết cấu lát hè, bãi đỗ xe bằng gạch block BTRTN hình lục giác đều.
- Quy trình công nghệ: Thiết lập quy trình trộn BTRTN tại trạm trộn bê tông thương phẩm (kiểm soát nghiêm ngặt lượng nước và thứ tự nạp vật liệu: cốt liệu lớn $\rightarrow$ xi măng + phụ gia khoáng $\rightarrow$ nước + phụ gia siêu dẻo); quy trình rải và đầm lèn bằng máy rải hoặc lu lăn chuyên dụng; phủ nilon dưỡng ẩm liên tục ngay sau khi hoàn thiện bề mặt để ngăn ngừa mất nước qua lỗ rỗng hở.
- Kết quả kiểm tra hiện trường: Thử nghiệm hệ số thoát nước tại hiện trường bằng thiết bị đo theo ASTM C1701 cho thấy kết cấu mặt đường và gạch block đều đạt khả năng thấm nước từ 4,2 đến 6,5 mm/s; cường độ nén trên mẫu khoan hiện trường đạt từ 20,5 đến 24,8 MPa, đáp ứng tiêu chuẩn làm lớp áo mặt đường giao thông cấp IV và bãi đỗ xe.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới của luận án
Theo công bố của tác giả, luận án mang lại 5 đóng góp mới về mặt khoa học và công nghệ:
- Xác định tỷ lệ cấp phối chất kết dính tối ưu: Thành phần CKD thích hợp nhất để chế tạo BTRTN là hỗn hợp gồm 70% xi măng poóc lăng + 20% tro bay nhiệt điện + 10% silica fume.
- Xác định ngưỡng độ nhớt giới hạn của hồ CKD: Độ nhớt tối thiểu cần đạt của hồ CKD đối với cốt liệu lớn cỡ hạt (5–10) mm và (10–20) mm để BTRTN có độ rỗng (15–30)%, không bị tách lắng hồ và lỗ rỗng phân bố đều theo chiều cao là lớn hơn $60\text{ mPa}\cdot\text{s}$.
- Xác lập quan hệ giữa độ nhớt và màng hồ bao bọc: Xác định được quy luật tương quan giữa độ nhớt hồ CKD với chiều dày màng hồ tối đa ($\delta_{max}$) bọc xung quanh bề mặt hạt cốt liệu lớn.
- Xây dựng hệ quy luật tương quan đa thông số: Thiết lập mối quan hệ định lượng giữa độ rỗng, hệ số thoát nước, cường độ nén với kích thước cốt liệu lớn, hàm lượng cốt liệu nhỏ (0%–10%), độ nhớt hồ CKD và cường độ nén đá CKD.
- Ứng dụng thực tiễn trong công trình giao thông: Ứng dụng thành công kết quả nghiên cứu vào kết cấu áo mặt đường giao thông dưới 2 dạng: BTRTN đổ tại chỗ và gạch block lục giác BTRTN tự chèn.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Áp dụng cấp phối có bổ sung 4%–7% cát vàng và sử dụng hệ chất kết dính đa cấu tử (PC + FA + SF) để chế tạo BTRTN cho các tuyến đường giao thông nông thôn (cấp IV, V), bãi đỗ xe, vỉa hè và công viên.
- Khi thi công BTRTN tại chỗ, bắt buộc phải bảo dưỡng ẩm bằng bạt hoặc nilon kín khí ngay sau khi đầm lèn để tránh hiện tượng mất nước nhanh làm suy giảm cường độ và bong tróc bề mặt.
- Định kỳ vệ sinh mặt đường BTRTN bằng máy hút bụi áp lực hoặc vòi phun nước áp lực cao để hạn chế hiện tượng tắc nghẽn lỗ rỗng do cát bụi trong quá trình khai thác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu vật liệu mới tập trung vào nguồn cốt liệu đá dăm (5–10) mm, (10–20) mm, cát vàng và tro bay Phả Lại; chưa mở rộng khảo sát các nguồn tro xỉ nhiệt điện khác hoặc cốt liệu tái chế từ phế thải xây dựng.
- Thử nghiệm hiện trường mới dừng lại ở quy mô mô hình thí điểm cho đường cấp IV và bãi đỗ xe, chưa theo dõi biến dạng và độ suy giảm khả năng thoát nước trong thời gian dài hạn (nhiều năm) dưới tác động của lưu lượng xe lớn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu độ bền lâu dài của BTRTN trong môi trường xâm thực (sunphat, nước ngầm nhiễm mặn, chu kỳ khô ẩm khắc nghiệt).
- Nghiên cứu sử dụng các loại phế thải công nghiệp khác (như xỉ lò cao nghiền mịn GBFS, tro trấu RHA) và cốt liệu tái chế để chế tạo BTRTN nhằm hạ giá thành sản phẩm.
- Nghiên cứu hoàn thiện các thiết bị chuyên dụng thi công đầm lăn và định mức kinh tế kỹ thuật, tiêu chuẩn hóa quy trình thiết kế và nghiệm thu mặt đường BTRTN tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng trong ngành xây dựng và môi trường:
GIÁ TRỊ THAM KHẢO
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao độ nhớt của hồ chất kết dính lại là yếu tố then chốt khi chế tạo BTRTN?
Trong BTRTN, hỗn hợp không có hoặc có rất ít hạt cát để tạo vữa lấp đầy khoảng trống giữa các viên đá. Nếu hồ CKD có độ nhớt quá thấp (quá loãng), hồ sẽ bị chảy xệ xuống đáy khuôn dưới tác dụng của trọng lực, làm bít kín đáy mẫu và làm mất khả năng thoát nước ở phần dưới. Khi độ nhớt đạt trên $60\text{ mPa}\cdot\text{s}$, hồ đủ khả năng bám dính và giữ lại lớp màng $\delta_{max}$ đồng đều xung quanh từng viên đá, bảo đảm lỗ rỗng phân bố đều theo toàn bộ chiều cao.
2. Tác dụng của việc kết hợp tro bay (FA) và silica fume (SF) cùng xi măng là gì?
Silica fume có cỡ hạt siêu mịn (0,03–0,3 µm) giúp tăng độ nhớt của hồ, phản ứng nhanh với $Ca(OH)_2$ để tăng cường độ sớm và làm đặc chắc vùng chuyển tiếp ITZ. Tro bay có hạt hình cầu trơn nhẵn giúp cải thiện độ linh động của hỗn hợp mà không cần tăng nước, đồng thời phản ứng puzolanic kéo dài giúp tăng độ đặc và cường độ đá CKD ở tuổi dài ngày, giảm nhiệt thủy hóa và hạ giá thành vật liệu.
3. Việc bổ sung một lượng nhỏ cát vàng (CLN từ 4% đến 10%) mang lại lợi ích gì cho BTRTN?
Bổ sung 4%–10% cát vàng giúp tạo ra lớp vữa mỏng chèn vào các điểm tiếp xúc giữa các viên đá dăm, làm tăng diện tích dính kết hạt. Kết quả là cường độ chịu nén tăng từ 15% đến 25%, cường độ kéo uốn và ép chẻ tăng, phân bố lỗ rỗng đồng đều hơn. Mặc dù hệ số thoát nước bị giảm đi so với khi không dùng cát, giá trị $K_t$ vẫn đạt từ 4,1 đến 7,8 mm/s, cao hơn ngưỡng yêu cầu tối thiểu ($4,0\text{ mm/s}$).
4. BTRTN có thể ứng dụng cho những loại công trình giao thông nào theo quy chuẩn Việt Nam?
Do có độ rỗng cao (15%–30%) nên cường độ nén của BTRTN trong nghiên cứu đạt từ 20 đến 28 MPa, phù hợp để làm lớp áo mặt đường cho các tuyến đường giao thông tải trọng nhẹ như đường cấp IV, cấp V, cấp VI (giao thông nông thôn, đường nội bộ khu đô thị), bãi đỗ xe ô tô, vỉa hè, đường dạo công viên và sân thể thao.
5. Biện pháp nào giúp khắc phục hiện tượng tắc nghẽn lỗ rỗng và bong tróc bề mặt của BTRTN?
Để chống bong tróc, cần bảo đảm kỹ thuật đầm lèn đạt độ chặt, tỷ lệ N/CKD hợp lý và phủ nilon dưỡng ẩm liên tục ngay sau khi thi công để hồ không bị khô sớm. Để chống tắc nghẽn do bùn đất và cát bụi bám vào lỗ rỗng trong quá trình khai thác, cần thực hiện vệ sinh định kỳ bằng máy quét hút chân không hoặc phun rửa bằng vòi nước áp lực cao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Đồng đã giải quyết bài toán công nghệ chế tạo bê tông rỗng thoát nước cường độ cao ($R_n \ge 20\text{ MPa}$, $K_t \ge 4\text{ mm/s}$) từ nguồn nguyên vật liệu sẵn có tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ cơ chế hình thành cấu trúc rỗng thông qua việc kiểm soát độ nhớt hồ CKD đa cấu tử (70% PC + 20% FA + 10% SF) và tỷ lệ cốt liệu nhỏ hợp lý. Kết quả nghiên cứu đã được thử nghiệm thực tế thành công dưới dạng lớp mặt đường bê tông đổ tại chỗ và gạch block lục giác, mở ra giải pháp vật liệu cho hạ tầng giao thông đô thị nhằm giảm ngập úng và thích ứng với biến đổi khí hậu.