MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xây dựng cơ bản và đặc biệt là xây dựng dân dụng là ngành sản xuất ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Hàng năm vốn đầu tư xây dựng vào ngành xây dựng cơ bản chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cả nước, trong đó xây dựng dân dụng chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu giá trị ngành. Theo báo cáo của FPTS, xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm 41,2% giá trị ngành, xây dựng dân dụng chiếm 40,6% và còn lại là xây dựng công nghiệp.
Với nguồn vốn đầu tư lớn, thời gian thi công dài, quy mô lớn, sản phẩm là các công trình xây dựng có tính đơn chiếc và giá trị cao. Nhu cầu xây dựng ngày càng đa dạng với quy mô ngày càng lớn chính là động lực thúc đẩy ngày xây dựng không ngừng phát triển. Đây là một trong nhân tố quan trọng tác động đến GDP của cả nước. Do vậy, ngành xây dựng, đặc biệt là ngành xây dựng dân dụng có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế.
Trong thời gian qua ngành xây dựng Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao trên 7% tính từ năm 2015- 2019, đặc biệt là năm 2015 tốc độ tăng trưởng 10.8%, cao nhất trong 10 năm gần đây. Việt Nam được đánh giá là một trong những nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng xây dựng khá cao trong khu vực. Tuy nhiên đến năm 2020, do sự tác động của dịch Covid 19, tỷ lệ này giảm xuống 6,76%. Mặc dù đây là mức tăng trưởng thấp nhưng vẫn được xem là khá cao so với khu vực và trên thế giới.
Trong các ngành kinh tế, dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực tới ngành xây dựng ở mức trung bình. Ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch chủ yếu thông qua: gián đoạn về kinh tế và sự suy giảm nhu cầu đầu tư. Trong đó, gián đoạn về kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tăng trưởng ngắn hạn của ngành, ngược lại suy giảm nhu cầu đầu tư sẽ có ảnh hưởng dài hạn hơn. Với việc sửa đổi Luật xây dựng năm 2014, gần đây là Luật xây dựng năm 2020 cùng với những chính sách hỗ trợ kích cầu, tình hình xây dựng, BĐS đang có những chuyển biến tích cực, kéo theo đó là sự đi lên của phân khúc xây dựng dân dụng.
Nhiều hiệp định tự do thương mại đã được ký kết và có hiệu lực như AFTA, ACFTA, AKFTA,CPTPP… đã đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam và thúc đẩy phát triển của ngành xây dựng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thay đổi này cũng đặt ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả mọi doanh nghiệp không chỉ trong nước mà còn mở rộng ra với các doanh nghiệp nước ngoài. Điều này sẽ tạo ra luan an 2 những cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng cũng mang thách thức đối với các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp xây dựng. Một bài toán đặt ra làm sao để có thể huy động và quản lý vốn một cách có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí thất thoát trong vốn kinh doanh.
Hơn nữa, sản phẩm xây dựng có đặc điểm là công nghệ xây dựng biến đổi chậm, bí quyết kỹ thuật khó giữ, thị trường cạnh tranh gay gắt. Do vậy, cần có sự quản lý chặt chẽ về sản xuất, quản lý về tài chính, trong đó có quản lý về chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh. Với vai trò là một công cụ quản lý kinh tế, kế toán đặc biệt là kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh là mối quan tâm lớn của các doanh nghiệp xây dựng. Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, bài toán đặt ra đối với các doanh nghiệp xây dựng là phải làm sao nâng cao được năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững trên thị trường.
Giải pháp quan trọng đó là phải sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có, nâng cao chất lượng quản lý, từ đó gia tăng lợi nhuận, tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để thực hiện được điều này, các nhà quản lý của đơn vị cần thông tin hữu ích phục vụ cho quá trình ra quyết định và điều hành doanh nghiệp. Kế toán đặc biệt kế toán doanh thu, chi phí, kết quả được xem là một trong những kênh thông tin quan trọng giúp nhà quản trị ra quyết định phù hợp. Gần đây với việc ban hành và công bố chuẩn mực kế toán quốc tế doanh thu từ hợp đồng với khách hàng (IFRS 15) thay thế cho một số chuẩn mực đã ban hành trước đây IAS 11,IAS 18 đã đưa ra các cách tiếp cận mới thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp có mô hình hoạt động kinh doanh theo hợp đồng.
Điều này dẫn đến những thay đổi trong việc xác định và ghi nhận doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Các nghiên cứu gần đây của E&Y, KPMG, Deloitte… đã cho thấy việc áp dụng IFRS 15 đã tác động lớn đến công tác kế toán của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây dựng. Đặc thù của ngành xây dựng có sự khác biệt so với các ngành nghề khác như thương mại, sản xuất, dịch vụ. Do vậy, kế toán tại doanh nghiệp xây dựng cần phù hợp với đặc tính của ngành xây dựng, sự thay đổi về trình độ quản lý, chính sách kinh tế và công nghệ thông tin.
Đặc biệt hiện nay với sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới được kết nối thông qua AI, IOT…giúp tăng cường khả năng hỗ trợ và tương hỗ lẫn nhau nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng. Việc tổ chức thông tin kế toán một cách khoa học, hợp lý sẽ góp phần đáng kể vào việc luan an 3 nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đồng thời cũng quyết định đến sự thành công và thất bại của DN. Trong những năm qua, hệ thống kế toán Việt nam về kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh nói riêng đã được xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Năm 2001, Việt Nam đã lần lượt ban hành 26 chuẩn mực kế toán, trong đó những chuẩn mực liên quan đến ngành xây dựng VAS14- Doanh thu và thu nhập khác, VAS 15- Hợp đồng xây dựng.
Tuy nhiên những chuẩn mực này hiện nay đã bị lỗi thời không còn phù hợp với thực tế phát triển kinh tế hiện nay. Năm 2014, với sự ra đời TT200/2014/TT/BTC, đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong công tác kế toán. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng kể vẫn còn những hạn chế nhất định tạo ra những khó khăn cho doanh nghiệp vận dụng trong thực tế, nhất là đối với các doanh nghiệp xây dựng dân dụng. Thực tế công tác kế toán doanh thu, chi phí, kết quả tại doanh nghiệp xây dựng vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế.
Điều này khiến các doanh nghiệp xây dựng khó có thể phát triển hội nhập với các doanh nghiệp xây dựng trong khu vực và quốc tế. Hơn nữa, những bất cập này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp. Hoạt động xây dựng là một ngành kinh tế đặc thù, hoạt động kinh doanh của DNXD không giống như hoạt động bán hàng thông thường mà là sự kết hợp của cả hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ. Thách thức lớn với kế toán là: xác định được cách tiếp cận, đo lường và xác định doanh thu, chi phí như thế nào? Khi nào ghi nhận doanh thu, chi phí? Các thông tin này được trình bày trên BCTC như thế nào? Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn của hoạt động xây dựng và trên cơ sở yêu cầu bức thiết của các công ty xây dựng dân dụng trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh hoạt động xây dựng trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng tại Hà Nội”.
Tổng quan nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án Kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh là một trong những nội dung quan trọng của công tác kế toán nói chung và kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng nói riêng. Do vậy, đã có rất nhiều luận án, cũng như các bài báo trong nước và quốc tế đề cập đến kế toán doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh ở các loại hình luan an 4 doanh nghiệp khác nhau hoặc đề cập đến kế toán tại các doanh nghiệp xây dựng dưới góc độ khác. Tác giả đã nghiên cứu rất nhiều luận án và bài báo nhằm thu thập tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong phần tổng quan nghiên cứu, tác giả đưa ra một bức tranh tổng quát về các công trình nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới về những vấn đề có liên quan đến nội dung của luận án.
Trên cơ sở đó để xác định khoảng trống nghiên cứu trong luận án của mình. Đây cũng là những minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài Thứ nhất: Tổng quan các nghiên cứu về khung lý thuyết kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh - Các công trình nghiên cứu về doanh thu Quá trình hình thành và phát triển của kế toán DT,CP và XĐKQKD đã được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới như W. Glover và Yuri Ijiri (2000); Yuri Biondi, Robert J Bloomield và Jonathan C.Lamoreaux (2012)… Cùng với sự phát triển của xã hội kế toán nói chung và kế toán DT,CP,XĐKQKD cũng có sự phát triển tương ứng nhằm cung cấp thông tin rõ ràng và minh bạch hơn cho những đối tượng sử dụng thông tin kế toán như nhà quản lý, nhà đầu tư… Thông qua các công trình nghiên cứu, các tác giả đã cho thấy lịch sử phát triển của kế toán DT,CP và XĐKQKD và những quan điểm riêng của tác giả về kế toán dưới góc độ trên. Để có cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển khung lý thuyết về kế toán DT,CP, XĐKQKD tác giả tóm tắt thành các giai đoạn phát triển như sau: Giai đoạn trước năm 2018: Trong giai đoạn này việc tiếp cận DT,CP và XDKQKD của các DN dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS).
Các chuẩn mực này được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành từ năm 1973 đến năm 2000.