CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ÐỘNG ÐẦU TƯ 1. Hoạt động đầu tư phát triển 1. Khái niệm và phân loại đầu tư phát triển 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội,.
Dưới góc độ tài chính thì đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về một chuỗi những dòng thu. Dưới góc độ tiêu dùng thì đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai (Robert Eisner, 1978). Tóm lại: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Nhìn chung, hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau đây (Nguyễn Thị Hiển, 2008): - Vốn: Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, các công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, qui trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác.
Vốn có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn vay, vốn cổ phần. - Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên 2 mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế xã hội (biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội). Lợi ích kinh tế xã hội thường được gọi tắt là lợi ích kinh tế. Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
Phân loại đầu tư Có nhiều cách phân loại đầu tư. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà thường có các loại đầu tư sau đây (Nguyễn Thị Hiển, 2008). (1) Theo chức năng quản lý vốn đầu tư Căn cứ vào chức năng quản lý vốn đầu tư gồm có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. (2) Theo nguồn vốn Căn cứ vào phân loại nguồn vốn, đầu tư gồm có đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài.
(3) Theo tính chất đầu tư (4) Theo thời gian hoạt động Căn cứ vào thời gian hoạt động, đầu tư được chia thành đầu tư ngắn hạn, đầu tư trung hạn, đầu tư dài hạn. (5) Theo lĩnh vực hoạt động Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động gồm có đầu tư cho sản xuất kinh doanh, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đầu tư cho quản lý. (6) Theo tính chất sử dụng vốn đầu tư - Đầu tư phát triển: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm gia tăng giá trị tài sản. - Đầu tư chuyển dịch: Là phương thức đầu tư trực tiếp, trong đó việc bỏ vốn nhằm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị tài sản (mua cổ phiếu, trái phiếu.
(7) Theo ngành đầu tư Bao gồm: đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng; Đầu tư phát triển công nghiệp và đầu tư phát triển dịch vụ. Các hình thức đầu tư (1) Đầu tư trong nước Đầu tư trong nước bao gồm các hình thức sau: - Doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước - Công ty trách nhiệm hữu hạn - Công ty cổ phần - Công ty liên doanh - Doanh nghiệp tư nhân (2) Đầu tư nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam. Loại đầu tư này nhằm mục đích kêu gọi vốn nước ngoài đầu tư vào với các mục tiêu: - Khắc phục được sự thiếu hụt về vốn trong hiện tại. - Tiếp cận được công nghệ và kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài, tăng được sức cạnh tranh của hàng nội địa.
- Giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động. - Đóng góp cho ngân sách,… 1. Vai trò của đầu tư phát triển Vai trò của đầu tư được thể hiện thông qua những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại không chỉ đối với người bỏ vốn (chủ đầu tư), mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người chủ đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng.
Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của doanh nghiệp đem lại cho người đầu tư (chủ đầu tư) là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và 13 tiêu dùng) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động (Nguyễn Thị Tuệ Anh & cộng sự, 2010). Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Hoạt động đầu tư nhằm tạo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, vì vậy yếu tố vật chất có tính tiền đề không thể thiếu được đó là vốn. Chính từ sự phát triển của các nước cho thấy vốn là một nhân tố đặc biệt quan trọng, là chìa khoá của sự thành công về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thể hiện ở các mặt sau: 1.
Đối với các đơn vị kinh tế Vốn là nhân tố tiền đề cho ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị kinh tế. Là một phạm trù tài chính, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được quan niệm như là khối lượng giá trị, được tạo lập và đưa vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, vốn được biểu hiện bằng giá trị và đại diện cho một khối lượng tài sản nhất định. Giữa vốn và tiền có quan hệ với nhau.
Muốn có vốn thì phải có tiền, song có tiền thậm chí những khoản tiền lớn cũng không phải là vốn. Một khối lượng tiền được gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp khi đáp ứng các điều kiện như tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực; tiền phải được tích tụ và tập trung đủ để đầu tư vào hoạt động kinh doanh; tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Vốn vừa là nhân tố đầu vào, đồng thời vừa là kết quả phân phối thu nhập đầu ra của quá trình đầu tư. Chính trong quá trình đó, vốn tồn tại với tư cách là một nhân tố độc lập, không thể thiếu được.
Vốn khi được đầu tư và sau một thời gian hoạt động phải được thu về để tiếp ứng cho chu kỳ kinh doanh sau; không thể mất đi mà vốn phải được bảo toàn và phát triển. Đối với nền kinh tế quốc dân Tác động của vốn đến cân bằng kinh tế vĩ mô: Một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là đòi hỏi phải đảm 14 bảo sự cân bằng kinh tế vĩ mô, trong đó giữa tiết kiệm và đầu tư phải có sự cân đối để nền kinh tế vừa có đủ vốn cho đầu tư phát triển, vừa tiêu hoá số tiền tiết kiệm một cách hiệu quả. Vốn chính là hiện thân của sự kết hợp giữa tiết kiệm và đầu tư. Số tiền tiết kiệm được gọi là vốn khi được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định để đưa vào đầu tư.
Nền kinh tế có tiết kiệm mới có cơ hội tăng thêm số vốn hiện hữu, qua đó mở rộng quy mô đầu tư. Thế nhưng, trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm và đầu tư được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Công chúng quyết định tiết kiệm bao nhiêu trong thu nhập của mình và doanh nghiệp quyết định mở rộng quy mô đầu tư ở mức độ nào, tất cả đều là những biến cố độc lập. Vì vậy, giữa tiết kiệm và đầu tư khó ăn khớp với nhau, nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị thừa hoặc thiếu vốn làm cho sự phát triển không ổn định, tăng trưởng thấp, thất nghiệp gia tăng,… Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổi mới của nền kinh tế nước ta thời gian qua.Với chính sách đổi mới,các nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hoá và gia tăng về quy mô, tốc độ tăng truởng của nền kinhtế đạt được cũng rất thoả đáng.
Cuộc sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện. Đầu tư tác động đến chuyển dịch kinh tế Đầu tư có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính sách tác động đến cơ cấu đầu tư.Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước có thể can thiệp trực tếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hoá, xây dựng cơ chế quản lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp thông qua các công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn. 15 Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng phân bổ vốn cho các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả và hiệu quả khác nhau.Vốn đầu tư cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồng thời ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế.
Không những thế, giữa dầu tư và tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít với nhau. Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý. Ngược lại tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn. Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng và năng lục sản xuất,phục vụ của nền kinhtế và các đơn vị cơ sở.
Chính vì vậy, đâu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của quốc gia theo cơ cấu kĩ thuật của đầu tư.