CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ðẦU TƯ CÔNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ðỘNG ðẾN HIỆU QUẢ ðẦU TƯ TRONG DỰ ÁN XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG. Lý luận chung về ñầu tư công phát triển hạ tầng giao thông 1. Khái niệm ñầu tư công trong dự án xây dựng công trình giao thông 1. Khái niệm, ñặc ñiểm của ñầu tư công: - Khái niệm: ðầu tư công là hình thức ñầu tư vốn của nhà nước vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục ñích kinh doanh.[1] Nguồn hình thành vốn ñầu tư công ñược lấy từ ngân sách, thu ngân sách bao gồm các khoản sau: + Thu nội ñịa: thu từ các khu vực kinh tế (thuế ñánh lên các doanh nghiệp), thu từ các khu vực khác (thuế nhà ñất, thuế nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thu xổ số kiến thiết, thu phí xăng dầu, thu phí, lệ phí…) + Thu từ hoạt ñộng xuất nhập khẩu: thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu + Thu viện trợ không hoàn lại.
- Nguồn vốn ñầu tư công: nguồn ñầu tư của nhà nước (Ig) ñược xác ñịnh theo công thức sau: Ig = (T – Cg) + Fg. Trong ñó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước; Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi ñầu tư. Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước; -15- Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước. Dựa vào ñẳng thức trên, ta thấy ñầu tư của khu vực nhà nước ñược tài trợ bởi ba nguồn: Thứ nhất, là khả năng huy ñộng vốn của khu vực nhà nước từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian.
Hình thức huy ñộng này ñược thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của nhà nước. Thứ hai, là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về ngân sách nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên. Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không ñủ ñáp ứng nguồn vốn ñầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Thứ ba, là nguồn vốn giúp ñỡ từ nước ngoài.
Nguồn này có vai trò khá quan trọng ñối với các nước kém phát triển. Các nguồn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc nợ. - ðặc ñiểm ñầu tư công: Hàng hóa công là loại hàng hóa mà bất kỳ chủ thể nào ñầu tư ñều mang lại lợi ích cho mọi người trong một nhóm lớn hơn. Hàng hóa công có 2 loại: hàng hóa công thuần túy và hàng hóa công không thuần túy.
[8] Hàng hóa công thuần túy có 2 ñặc tính: + Hàng hóa công là loại hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng. Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hoá công, và chi phí ñáp ứng nhu cầu ñòi hỏi các ñối tượng tiêu dùng này tăng thêm là bằng không. Phần lớn hàng hoá công do Chính phủ cung cấp và ngoài ra còn có thể huy ñộng sự tham gia của khu vực tư ñể ñáp ứng nhu cầu về hàng hoá công của xã hội. + Hàng hoá công có tính không loại trừ trong tiêu dùng.
Khi tăng thêm một người tiêu dùng thì hàng hoá công sẽ không làm giảm ñi lợi ích của những -16- người tiêu dùng hiện có và chi phí ñáp ứng ñòi hỏi của các ñối tượng tiêu dùng tăng thêm là bằng không. Khi hàng hoá công ñược cung cấp thì không thể loại trừ hoặc rất tốn kém ñể loại trừ một người nào ñó tiêu dùng hàng hoá mà không chịu trả tiền cho hành ñộng tiêu dùng của mình. Những hàng hóa công nào mà chỉ thỏa mãn một trong hai ñiều kiện trên ñược gọi là hàng hóa công không thuần túy. Có nghĩa là hàng hóa công ñó mặc dù có tính không cạnh tranh nhưng ở chừng mực nào ñó có tính loại trừ và ngược lại hàng hóa ñó có tính cạnh tranh nhưng không có tính loại trừ.
Ví dụ: ðường dành cho người ñi bộ là hàng hóa không thuần túy. Tính cạnh tranh thể hiện là khi có nhiều người cùng ñi bộ trên ñường sẽ làm giảm ñi sự thưởng thức của bạn và tính không loại trừ thể hiện là thật sẽ là rất khó ñể mà ngăn cản tất cả mọi người ñi vào con ñường ñó. Trong cơ chế kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước thông qua các công cụ tài chính công là cần thiết. Nguyên nhân là có sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hoá công, tính không hiệu quả do khu vực tư cung cấp hàng hoá công và làm giảm phúc lợi xã hội.
Sự phát triển của xã hội trong giai ñoạn kinh tế thị trường hiện ñại ñã cho thấy chi tiêu công không hoàn toàn mất ñi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế. Chính phủ ñóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông qua các khoản chi tiêu công. Với ý nghĩa ñó, ñầu tư công ñóng vai trò rất quan trọng trong giai ñoạn nền kinh tế ñang có những bước chuyển ñổi nhằm sử dụng các nguồn vốn ñầu tư có hiệu quả. ðặc biệt, trong thời kỳ ñổi mới, ñầu tư công chuyển mạnh sang ñầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá ñói giảm nghèo.
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong ñầu tư công ñể tạo những bước ñột phá phát triển ñất nước. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngoài cũng tham gia ñầu tư, kinh doanh CSHT bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, -17- BT,. - ðầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy Chi ñầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố ñịnh, gia tăng giá trị tài sản cố ñịnh cho nền kinh tế quốc dân. Vấn ñề này, thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường ñầu tư xây dựng CSHT kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục…Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân ñối giữa các ngành, các lãnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt ñộng sản xuất kinh doanh; thúc ñẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút ñầu tư trong nước và nước ngoài và tạo ñộng lực, cú hích cho sự tăng trưởng.
- Quy mô và cơ cấu chi ñầu tư công của ngân sách nhà nước không cố ñịnh và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ và mức ñộ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ ñầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy mô chi ñầu tư công của ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng ñầu tư xã hội. Ở giai ñoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi chính sách thu hút vốn ñầu tư chưa hoàn thiện nên nhà nước phải tăng cường quy mô ñầu tư từ ngân sách nhà nước ñể tạo ñà cho tiến trình công nghiệp hoá. ði ñôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi ñầu tư cũng rất ña dạng ñể ñáp ứng với nhu cầu thực tiễn ñặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội…Quy mô chi ñầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức ñộ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức ñộ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Khi ñó chi ñầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào ñiều chỉnh nhằm ñạt tới sự ổn ñịnh của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ ñịnh, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ ñược cắt giảm. - Chi ñầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả -18- vốn ñầu tư. Sự phối hợp không ñồng bộ giữa chi ñầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn ñến tình trạng thiếu kinh phí ñể duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng CSHT. ðiều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản ñầu tư.
Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng ñầu tư tràn lan, không tình ñến hiệu quả khai thác. Nội dung chi ñầu tư công gồm 4 lĩnh vực: chi xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển ñể thực hiện tín dụng ñầu tư phát triển của nhà nước; chi dự trữ nhà nước. Trong ñó, chi ñầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và ñược thực hiện theo phương thức không hoàn trả. Chi ñầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống CSHT của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng ñiểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng.
Thực chất loại chi này nhằm ñảm bảo tái sản xuất giản ñơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố ñịnh cho các ngành sản xuất vật chất và không sản xuất, có ý nghĩa quyết ñịnh ñối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự tham gia của nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng ñối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích ñầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh ñồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế. Khái niệm ñầu tư công trong dự án xây dựng công trình giao thông ðầu tư công trong dự án xây dựng công trình giao thông là hình thức ñầu tư vốn ngân sách nhà nước vào các dự án xây dựng công trình giao thông ( ñường xá, cầu cống…) phục vụ nhu cầu dân sinh ñể ñáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và không nhằm mục ñích kinh doanh.