ĐẶT VẤN ĐỀ: Công nghệ số đang dần thay đổi cơ bản hình thức cung ứng các dịch vụ tài chính - ngân hàng, các ngành chế biến sản xuất. Cách mạng công nghiệp 4.0 tự động hóa để cải thiện năng suất, đang hàng ngày hàng giờ làm thay đổi diện mạo các ngân hàng, các đơn vị cung cấp dịch vụ tài chính hay các ngành dịch vụ khác trên thế giới. Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất [12]. Việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số được nâng lên một cấp độ hoàn toàn mới với sự trợ giúp của kết nối thông qua Internet vạn vật (Internet of Things - IoT), trao đổi, truy cập dữ liệu thời gian thực và các hệ thống mạng vật lý không gian ảo, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây,.Theo nghiên cứu gần đây của ILO (2018) [18] cho thấy các công nghệ đang được quan tâm và có tác động lớn nhất trong Cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm: internet (“internet vạn vật”), dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ robot, tiện tự điều khiển, công nghệ in 3D, nano và công nghệ sinh học, công nghệ điện toán.
Trong thập kỷ qua, trên thế giới và cả Việt Nam, nhiều công nghệ đã được áp dụng trong ngành xây dựng góp phần tăng cường mức độ số hóa, tự động hóa và được tích hợp vào mọi giai đoạn trong chuỗi cung ứng của ngành xây dựng [14]. Đó chính là biểu hiện của việc ngành xây dựng đã và đang chuyển hướng theo cuộc Cách mạng công nghiệp 4. Một cách tổng quát hơn, Cách mạng công nghiệp 4.0 trong ngành xây dựng, hay còn gọi là Xây dựng 4.0 có thể hiểu là sự chuyển đổi toàn diện và sâu sắc các quy trình quản lý dự án của các doanh nghiệp xây dựng thông qua việc sử dụng các công nghệ mới hoặc công nghệ hiện có để khai thác dữ liệu được thu thập trong thời gian thực, phục vụ cho việc ra quyết định [17]. Nhiều công nghệ mới đang được giới thiệu bởi các nhà cung cấp công nghệ và các công ty xây dựng.
Chúng bao gồm lập mô hình thông tin tòa nhà (BIM), big data, lưu HOÀNG TUẤN VŨ 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. CHU VIỆT CƯỜNG PGS. TS LƯƠNG ĐỨC LONG trữ đám mây, thiết kế đa chiều [ví dụ: bốn chiều (4D) và năm chiều (5D)], đúc sẵn, in ba chiều (3D), trí tuệ nhân tạo, và các tòa nhà thông minh [1]. Đối với việc xây dựng, số hóa điều đó có nghĩa là triển khai các công cụ và công nghệ số khai thác sức mạnh của dữ liệu để làm cho hoạt động hiệu quả, năng suất và an toàn hơn.
Bản sao kỹ thuật số sẽ là một công cụ hữu ích trong ngành xây dựng như cung cấp thông tin chẩn đoán hoặc tiên lượng, tính toán giảm điện năng tiêu thụ, giảm lượng khí thải… làm tăng lợi tức đầu tư. Ngày càng có nhiều công nghệ số mới và các ứng dụng mới được nghiên cứu áp dụng vào lĩnh vực xây dựng, mang lại hiệu quả cao hơn cho các dự án đầu tư xây dựng trong suốt vòng đời. Do đó nghiên cứu này đặt mục tiêu làm rõ và đánh giá mức độ số hóa các hoạt động có khả năng số hóa trong xây dựng và ứng dụng của chúng trong quản lý dự án đầu tư xây dựng. XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lý do chọn đề tài Các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số trong xây dựng 4.0 ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp tư vấn, các nhà thầu thi công tham gia trực tiếp vào quá trình triển khai các dự án đầu tư xây dựng. Bằng việc đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, từ đó tận dụng được các ứng dụng mới do công nghệ thông tin và các nền tảng, công cụ mới dựa trên công nghệ thông tin mang lại, các doanh nghiệp trong ngành xây dựng Việt Nam dần nhận thấy họ có khả năng tiếp cận dự án tốt hơn, thiết kế hợp lý hơn, thi công ít rủi ro hơn và quản lý có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp đã dần nhận thức được, việc áp dụng các công nghệ số trong xây dựng 4.0 đã và đang mang lại cho họ lợi thế cạnh tranh, mở ra các ngành nghề kinh doanh mới. Thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy các hoạt động đầu tư để hòa nhập với cuộc Các mạng công nghệ 4.
Ngành xây dựng cũng không nằm ngoài cuộc. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã ban hành các Quyết định: số 1004/QĐ-BXD ngày 31/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt “Kế hoạch Chuyển đổi số ngành Xây dựng giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030”; số 1533/QĐ-BXD ngày 7/12/2020 về việc phê duyệt Kế hoạch HOÀNG TUẤN VŨ 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. CHU VIỆT CƯỜNG PGS. TS LƯƠNG ĐỨC LONG ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Bộ Xây dựng giai đoạn 2021-2025; số 219/QĐ-BXD ngày 28/3/2019 về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025; số 1735/QĐ- BXD ngày 31/12/2020 về Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số của cơ quan Bộ Xây dựng năm 2021.
Qua đó cho thấy sự vào cuộc khẩn trương, quyết liệt của các cấp, các ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng trong thời đại 4. Kế hoạch chuyển đổi số ngành xây dựng giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định chuyển đổi số ngành Xây dựng là nội dung rất quan trọng cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả để góp phần tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Đối tượng, lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số gồm: Cơ sở dữ liệu (CSDL) trong đó bao gồm các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức, đơn giá để phục vụ quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng; Thực hiện Chính phủ điện tử Bộ Xây dựng; Hoạt động xây dựng (tư vấn thiết kế; tư vấn thẩm tra, thẩm định; thi công xây lắp; nghiệm thu công trình); Khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng; Quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và hạ tầng kỹ thuật đô thị; Nhà ở, công sở và thị trường bất động sản. Công việc trước đây tập trung chủ yếu vào việc đánh giá số hóa tại cấp độ ngành và công ty.
Các công việc khác công việc khác sử dụng khảo sát cấp ngành để chỉ ra công nghệ nào đang được sử dụng và ở lĩnh vực nào trong các dự án xây dựng [1]. Thiếu đánh giá cấp dự án về mức độ số hóa, và các mô hình cấp công ty và ngành quá thẳng thừng để tạo điều kiện cho các hành động cải thiện số hóa. Trước khi thảo luận về những nỗ lực hiện có để cải thiện số hóa trong ngành xây dựng, trước tiên chúng ta cần đánh giá mức độ số hóa ở cấp độ dự án để cho phép xác định các vấn đề. Xếp hạng dự án dựa trên mức độ số hóa có thể giúp xác định các phương pháp hay nhất.
HOÀNG TUẤN VŨ 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. CHU VIỆT CƯỜNG PGS. TS LƯƠNG ĐỨC LONG Một chỉ số để đánh giá mức độ số hóa của các dự án là cần thiết. Chỉ số này và kết quả của nó có thể giúp các nhà nghiên cứu so sánh các dự án với các mức độ số hóa khác nhau để xác định sự khác biệt của chúng và liên kết mức độ số hóa với năng suất, an toàn và hiệu suất làm việc.
Trên thực tế, các công ty xây dựng có thể xác định các dự án có mức độ số hóa cao và thấp để cố gắng cải thiện dự án sau này. Ngoài ra, ngành xây dựng được phân cấp, phân tán và dựa trên dự án, điều này dẫn đến việc các công ty ký hợp đồng hoạt động nhiều hơn như một hệ sinh thái làm việc trên các dự án tự chủ. So sánh các dự án đang thực hiện trong một công ty nhà thầu về số hóa của họ sẽ giúp xác định vị trí số hóa có thể dẫn đến những cải tiến. Do đó, học viên đề xuất thực hiện đề tài “Đánh giá mức độ số hóa của các hoạt động trong dự án xây dựng tại Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu: - Xác định và phân nhóm các hoạt động tiềm năng để số hóa trong các dự án xây dựng. Đánh giá khả năng số hóa của các hoạt động trong dự án xây dựng: (1) Hoạt động dễ dàng số hóa: số hóa sẽ dễ dàng thực hiện, sử dụng so với các cách làm việc truyền thống. (2) Hoạt động hữu ích để số hóa: số hóa cho phép hiệu suất của các hoạt động nhanh hơn và tăng năng suất so với làm việc truyền thống. (3) Hoạt động số hóa có áp lực từ các bên liên quan khác nhau để số hóa hoạt động (4) Hoạt động có sự tạo điều kiện (chẳng hạn như hỗ trợ tổ chức, giáo dục và cơ sở hạ tầng CNTT) để số hóa hoạt động: kiến thức về tổ chức và cơ sở hạ tầng kỹ thuật (bao gồm cả đào tạo và hỗ trợ) cần thiết đủ đáp ứng cho quá trình số hóa.
- Đánh giá mức độ số hóa của các hoạt động trong dự án xây dựng, thành lập các tiêu chí đánh giá mức độ số hóa của các dự án xây dựng. HOÀNG TUẤN VŨ 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ TS. CHU VIỆT CƯỜNG PGS. TS LƯƠNG ĐỨC LONG Mục tiêu là xác định tần suất và mức độ số hóa của từng hoạt động, sử dụng 5 điểm thang đo Likert từ 1 (1% –20% thời gian) đến 5 (81% – 100% của thời gian).
Xác định mức độ số hóa của từng hoạt động ở ba cấp độ đối với bốn quy trình quản lý dữ liệu: thu thập, nhập, phân tích và báo cáo theo các cấp độ. Cấp độ 1: thủ công và tương tự, Cấp độ 2: Thủ công và kỹ thuật số và Cấp độ 3: Kỹ thuật số và tự động. - Đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai, đưa ra các kiến nghị, giải pháp số hóa trong dự án xây dựng để nâng cao hiệu quả quản lý dự án cho các chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động để số hóa trong các dự án xây dựng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: các dự án xây dựng ở Việt Nam.