CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu Trong lý thuyết cũng như trong quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án. Tùy mục đích nghiên cứu, mỗi quan điểm về dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau.
Trên thế giới Theo từ điển tiếng Anh Oxford: “Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”. Theo Ngân hàng thế giới - World Bank: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định; Định nghĩa về dự án của David Jary và Julia Jury trong từ điển xã hội học như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể. Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng.
Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng. Price Gittinger (1982) trong nghiên cứu “Phân tích kinh tế các dự án nông nghiệp”, khái niệm dự án được đặt trong một hệ thống quản lý nguồn lực đầu vào và giám sát đánh giá kết quả đầu ra theo một trình tự và không gian hoạt động nhất định. Từ đó dự án được định nghĩa theo ba quan điểm: (1) Dự án là sự sắp xếp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích, đánh giá, thực thi và tiến hành như một đơn vị độc lập; (2) Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch hay một chương trình, được chuẩn bị và thực thi như một thể độc lập và thống nhất; (3) Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc. Ở Việt Nam Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam thuật ngữ Dự án được dùng rộng rãi, tuy nhiên chỉ mới phổ biến trong vài thập kỷ gần đây.
Theo đại bách khoa toàn thư: Dự án (Project) là điều người ta có ý định làm hay đặt kế hoạch cho một ý đồ, một quá trình hành động… PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 - Dự án là một nỗ lực tổng hợp bao gồm các nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện trong giới hạn về thời gian, ngân sách và với một mục tiêu được định nghĩa một cách rõ ràng. Dự án là một tập hợp có tổ chức các hoạt động và các quy trình đã được tạo ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách và các kỳ hạn đã được xác định trước. Theo Viện quản trị Dự án: Dự án là một nỗ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị. Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang, tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây Dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa về dự án.
Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch dự án để có được những mục tiêu mong muốn. Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định”. Cũng theo MPI thì “Dự án đầu tư là một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”. Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định.
Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường. Đánh giá kết quả, hiệu quả dự án Đánh giá dự án là một nhiệm vụ nằm trong các chuỗi hoạt động của dự án. Tùy thuộc mục tiêu đánh giá mà có quy mô thực hiện đánh giá khác nhau. Đánh giá giai đoạn hoặc là đánh giá định kỳ là nhằm rà soát, so sánh nhiệm vụ, mục tiêu theo một kế hoạch nào đó đồng thời dự đoán hiệu quả trong tương lai.
Tất cả các giai đoạn trong chu trình dự án đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau để tạo thành một chu trình hoàn chỉnh. Do đó các bài học kinh nghiệm từ những dự án đã thực hiện trước đây có thể được áp dụng cho các dự án sắp tới, ngay từ giai đoạn lập kế hoạch. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Đánh giá là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đánh giá làm rõ những thành công, thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác trong tương lai. Cần phải tiến hành đánh giá dựa trên các nét cơ bản sau: (i) Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không? (ii) Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân hay không? Mức độ đóng góp là bao nhiêu? (iii) Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao? (iv) Những bài học cần rút ra? "Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn mọi nhu cầu của những thế hệ tiếp theo", (WCED, 1987) Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường sống.
Đó không chỉ là sự phát triển nền kinh tế, văn hoá, xã hội một cách vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo ổn định, cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con người đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định bền vững. Do đó, trong mỗi hoàn cảnh môi trường và nguồn tài nguyên cụ thể, con người phải tìm ra các hướng phát triển tối ưu của mình. Trong những hướng đó bao gồm sự phối hợp chặt chẽ các chính sách kinh tế, xã hội và môi trường, sự hiểu biết các hệ thống kinh tế, xã hội và sinh thái cũng như quan hệ phức tạp giữa các hệ thống đó, nhằm bảo đảm mọi lợi ích xã hội không bị suy giảm. Để đạt được điều đó, cách tiếp cận phổ biến và khoa học nhất hiện nay là: tiếp cận sinh thái, tiếp cận kinh tế và tiếp cận mang tính đạo đức xã hội.
Đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo - trong đó có tài nguyên sinh vật rừng và đất rừng, khái niệm sử dụng bền vững bao gồm 5 thuộc tính, đó là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận. Như vậy, so sánh những thuộc tính của dự án với phát triển cho thấy: bền vững không chỉ là thuộc tính của các dự án mà còn là mục tiêu hướng tới của các dự án trong thời kỳ hiện nay. Chính vì vậy, dự án và công tác đánh giá dự án tùy thuộc vào từng lĩnh vực với các quy định riêng nhưng đều dựa vào các tiêu chí về kinh tế, xã hội, môi trường và tổng hợp các tiêu chí đó là sự phát triển bền vững của chính dự án và đối tượng của dự án PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1. Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu 1.
Trên thế giới Theo lý thuyết về đánh giá dự án thì tại các công trình nghiên cứu của một số tác giả như: L.Therse Barker, Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt…, đã thể hiện đánh giá liên quan đến việc đo lường, so sánh và đưa ra những nhận định về kết quả của hệ thống các hoạt động dự án, so sánh kết quả với mục tiêu đề ra ban đầu. Đối với một dự án, đánh giá còn là xem xét một cách logic có hệ thống nhằm xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của dự án, tác động đến các mặt của đời sống xã hội và tự nhiên. Hoạt động đánh giá là một công tác được triển khai khi đã có một số các hoạt động chính của dự án diễn ra theo định kỳ hay gọi cách khác là đánh giá giai đoạn, hoặc khi tổng thể các hoạt động của dự án đã chấm dứt.Grady đã phân loại đánh giá dự án bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá mục tiêu. Đánh giá mục tiêu là xem xét, so sánh tính hiệu quả của dự án có đạt được mục tiêu hay không.
Đánh giá tiến trình là công việc ngoài sự xem xét các nội dung của dự án để đạt được mục tiêu thì còn xem xét tiến độ thực hiện dự án theo từng công đoạn của thời gian. Để đánh giá dự án, người ta sử dụng nhiều phương pháp thực hiện như điều tra khảo sát (servey), phỏng vấn (interview), thảo luận nhóm (focus group), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não… tất cả các nội dung của hoạt động đánh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp khách quan với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện dự án.