Luận án đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật trồng rừng dẻ ăn hạt ở Tây Nguyên

Nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm lâm học và các biện pháp kỹ thuật nhằm xúc tiến tái sinh tự nhiên, gây trồng rừng dẻ ăn hạt tại vùng Tây Nguyên.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

161
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu dẻ ăn hạt ở Tây Nguyên

Dẻ ăn hạt thuộc họ Fagaceae, là nhóm cây bản địa có giá trị kinh tế cao tại vùng Tây Nguyên. Theo các tài liệu khoa học, họ Dẻ gồm 6 chi với hơn 200 loài phân bố tại Việt Nam. Trong đó, chi Castanopsis chiếm số lượng lớn với khoảng 52-57 loài. Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, nơi tập trung nhiều loài dẻ ăn hạt quý hiếm. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của dẻ ăn hạt nhằm hiểu rõ quy luật sinh trưởng, phát triển và khả năng tái sinh tự nhiên. Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng phù hợp. Các công trình nghiên cứu giai đoạn 2006-2015 đã thu thập số liệu tại 5 tỉnh Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dẻ ăn hạt. Đây là loài cây đa tác dụng, vừa cho hạt ăn được vừa bảo vệ môi trường sinh thái.

1.1. Phân loại và đặc điểm thực vật học của dẻ ăn hạt

Họ Dẻ Fagaceae là một trong 10 họ có số loài lớn nhất tại Việt Nam. Các nghiên cứu phân loại cho thấy họ này gồm 6 chi chính: Quercus (41-48 loài), Lithocarpus (111-120 loài), Castanopsis (52-57 loài), Castanea (1-2 loài), Fagus (1 loài) và Trigonobalanus (1 loài). Dẻ ăn hạt thuộc chi Castanopsis, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây có thân gỗ lớn, chiều cao có thể đạt 25-30m. Lá đơn mọc cách, phiến lá hình trứng thuôn dài. Hoa đơn tính cùng gốc, quả dạng quả dẻ chứa hạt tinh bột có giá trị dinh dưỡng cao.

1.2. Vai trò kinh tế và sinh thái của rừng dẻ ăn hạt

Dẻ ăn hạt đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Về mặt kinh tế, hạt dẻ là sản phẩm lâm sản ngoài gỗ có giá trị thương phẩm cao, cung cấp nguồn thu nhập cho người dân địa phương. Gỗ dẻ có chất lượng tốt, được sử dụng trong xây dựng và chế biến đồ gỗ. Về mặt sinh thái, rừng dẻ ăn hạt giúp bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất và duy trì đa dạng sinh học. Cây còn có khả năng cố định đạm, cải thiện độ phì nhiêu của đất rừng. Việc bảo tồn và phát triển rừng dẻ ăn hạt góp phần vào chiến lược phát triển lâm nghiệp bền vững.

II. Phân tích đặc điểm lâm học và vấn đề tái sinh dẻ ăn hạt

Đặc điểm lâm học của dẻ ăn hạt ở Tây Nguyên cho thấy sự đa dạng về sinh trưởng và phát triển giữa các quần thể. Nghiên cứu tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng ghi nhận sự khác biệt đáng kể về đường kính, chiều cao và sản lượng hạt. Tái sinh tự nhiên của dẻ ăn hạt gặp nhiều thách thức do tác động của con người và biến đổi khí hậu. Mức độ che phủ tán rừng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mọc mầm của hạt. Đất rừng bị thoái hóa làm giảm tỷ lệ sống của cây con. Các yếu tố sinh học như sâu bệnh, nấm hại cũng gây thiệt hại lớn cho quá trình tái sinh. Tình trạng khai thác gỗ trái phép và chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng đe dọa nghiêm trọng đến quần thể dẻ ăn hạt tự nhiên. Cần có giải pháp tổng thể để giải quyết các vấn đề trên.

2.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của dẻ ăn hạt

Nghiên cứu sinh trưởng của dẻ ăn hạt cho thấy cây có tốc độ phát triển chậm trong giai đoạn đầu. Chiều cao trung bình tăng 0,5-0,8m mỗi năm ở giai đoạn 1-5 năm tuổi. Đường kính tăng nhanh hơn từ năm thứ 10 trở đi, đạt 0,8-1,2cm mỗi năm. Cây bắt đầu cho hạt từ 8-12 năm tuổi, sản lượng tăng dần theo tuổi. Mùa ra hoa thường vào tháng 2-4, quả chín vào tháng 9-11. Đặc biệt, dẻ ăn hạt có khả năng tái sinh chồi mạnh sau khi bị khai thác hoặc cháy rừng. Hệ số phân cành và hình dạng tán cây thay đổi tùy theo điều kiện ánh sáng và mật độ trồng.

2.2. Thực trạng và thách thức trong bảo tồn nguồn gen dẻ ăn hạt

Nguồn gen dẻ ăn hạt tại Tây Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Diện tích rừng tự nhiên chứa dẻ ăn hạt giảm liên tục do khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng. Nhiều quần thể dẻ ăn hạt bị suy thoái gen do giao phối cận huyết. Việc thu hái hạt quá mức làm giảm khả năng tái sinh tự nhiên. Các giống bản địa có giá trị cao đang dần mai một. Công tác bảo tồn ex-situ còn hạn chế, thiếu vườn giống quốc gia. Nghiên cứu chọn lọc và nhân giống chưa được đầu tư đúng mức. Cần xây dựng hệ thống bảo tồn nguồn gen toàn diện, kết hợp bảo tồn in-situ và ex-situ.

III. Biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng và xúc tiến tái sinh rừng dẻ

Biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng dẻ ăn hạt bao gồm nhiều nhóm giải pháp đồng bộ. Kỹ thuật ghép cành là phương pháp nhân giống hiệu quả, giúp rút ngắn thời gian từ 8-10 năm xuống còn 3-5 năm cho cây ra quả. Thí nghiệm cho thấy tỷ lệ ghép thành công đạt cao nhất khi sử dụng cành bánh tẻ từ cây mẹ 10-20 năm tuổi. Thời vụ ghép thích hợp là vụ xuân tháng 3 và vụ thu tháng 9. Kỹ thuật giâm hom cũng được áp dụng với hom dài 7-10cm, xử lý bằng dung dịch Benlat C 0,3%. Giá thể giâm hom gồm cát tinh và đất tầng A trộn tỷ lệ 1:1. Biện pháp xúc tiến tái sinh bao gồm dọn rừng dưới tán, tạo khoảng trống trong tán rừng và gieo hạt trực tiếp. Nuôi dưỡng rừng non đòi hỏi việc làm cỏ, bón phân và phòng trừ sâu bệnh định kỳ.

3.1. Kỹ thuật ghép cành và giâm hom dẻ ăn hạt

Kỹ thuật ghép cành dẻ ăn hạt được nghiên cứu với 2 nhân tố chính: cấp tuổi cây lấy vật liệu và loại cành ghép. Ba cấp tuổi cây mẹ được thử nghiệm: 2-3 năm, 5-10 năm và 15-20 năm. Hai loại cành ghép gồm cành non và cành bánh tẻ. Kết quả cho thấy cành bánh tẻ từ cây 10-20 năm tuổi cho tỷ lệ sống cao nhất. Thời vụ ghép tốt nhất là cuối thu tháng 9 và đầu xuân tháng 3. Tỷ lệ sống sau 120 ngày đạt trên 70% với điều kiện tối ưu. Kỹ thuật giâm hom sử dụng hom từ cây mẹ 10-20 năm tuổi, đã được trẻ hóa 3 tháng trước khi lấy hom.

3.2. Kỹ thuật gây trồng và chăm sóc rừng dẻ ăn hạt

Gây trồng rừng dẻ ăn hạt đòi hỏi quy trình kỹ thuật chặt chẽ từ chuẩn bị đất đến chăm sóc lâu dài. Mật độ trồng khuyến cáo 400-600 cây/ha đối với rừng trồng thuần. Hố trồng có kích thước 40x40x40cm, bón lót 0,5-1kg phân hữu cơ hoai mục. Thời vụ trồng tốt nhất là đầu mùa mưa tháng 5-6. Trong 3 năm đầu, cần làm cỏ 2-3 lần mỗi năm và bón phân NPK định kỳ. Tỉa cành tạo tán bắt đầu từ năm thứ 3 để hình thành thân gỗ thẳng. Phòng trừ sâu bệnh chủ yếu bằng biện pháp sinh học. Rừng dẻ ăn hạt cần 15-20 năm để đạt giai đoạn khai thác tối ưu.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn phát triển rừng dẻ ăn hạt

Nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng dẻ ăn hạt ở Tây Nguyên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các số liệu thu thập từ 2006-2015 cung cấp cơ sở khoa học đáng tin cậy về sinh trưởng, phát triển và khả năng tái sinh của loài cây này. Kỹ thuật ghép cành và giâm hom đã được tối ưu hóa, áp dụng thành công trong thực tế sản xuất. Biện pháp xúc tiến tái sinh dưới tán rừng cho hiệu quả cao, giúp phục hồi diện tích rừng bị suy thoái. Gây trồng rừng dẻ ăn hạt cần được triển khai rộng rãi tại các vùng có điều kiện sinh thái phù hợp. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn trong phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sẽ nâng cao giá trị kinh tế trên đơn vị diện tích rừng. Đây là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia.

4.1. Đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã bổ sung những kiến thức mới về đặc điểm lâm học của dẻ ăn hạt tại Tây Nguyên. Hệ thống dữ liệu về sinh trưởng, sản lượng hạt và khả năng tái sinh được xây dựng đầy đủ. Quy trình kỹ thuật ghép cành, giâm hom và gây trồng được tiêu chuẩn hóa. Nghiên cứu còn phát hiện một số đặc tính quý của quần thể dẻ ăn hạt bản địa. Kết quả được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín và ứng dụng tại các lâm trường. Đề xuất các biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện địa phương, dễ áp dụng cho người dân. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng cho công tác quy hoạch và phát triển rừng sản xuất.

4.2. Định hướng phát triển rừng dẻ ăn hạt bền vững tại Tây Nguyên

Phát triển rừng dẻ ăn hạt bền vững cần kết hợp nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, mở rộng diện tích rừng trồng tập trung tại các vùng đất bazan phù hợp. Thứ hai, áp dụng rộng rãi kỹ thuật ghép cành để rút ngắn thời gian thu hoạch. Thứ ba, xúc tiến tái sinh tự nhiên dưới tán rừng già hiện có. Thứ tư, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ chế biến và xuất khẩu. Thứ năm, phát triển mô hình agroforestry kết hợp dẻ ăn hạt với cây công nghiệp. Thứ sáu, đào tạo kỹ thuật cho nông dân và cán bộ lâm nghiệp địa phương. Cuối cùng, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư và bảo hiểm nông nghiệp cho người trồng rừng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm học và đề xuất biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng xúc tiến tái sinh và gây trồng rừng dẻ ăn hạt ở tây nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu (4 trang) - Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (21 trang) - Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu (19 trang) - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (68 trang) - Kết luận, tồn tại và kiến nghị (5 trang) Ngoài ra, còn có các phần: Lời cam đoan; Lời cảm ơn; Danh mục các từ viết tắt; Danh mục tên khoa học các loài cây; 93 tài liệu tham khảo và phụ lục (19 trang). 6 Chƣơng 1 TỔN QUAN VẤN ĐỀ N IÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Phân loại thực vật Năm 1829, nhà khoa học Dumortier là ngƣời đề xuất tách họ Dẻ (Fagaceae) ra khỏi họ Sau sau (Hamamelidaceae) và bổ sung cho giới thực vật một họ mới (A.

Họ Dẻ là một họ thực vật lớn, rất đa dạng về thành phần loài và đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm, vì vậy trên thế giới cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về phân loại họ Dẻ.Hickel (1932) [74] chia họ Dẻ thành 3 phân họ là Castaninees với chi Pasania, Castanopsis và Castanea, Faginees với chi Fagus và Quercinees với chi Quercus có 2 phân chi Cyclobalanopsis và phân chi Euquercus. Tuy nhiên, quan điểm này không đƣợc ủng hộ bởi nhiều tác giả (Milchior H. Năm 1997, Takhtajan đã đƣa ra hệ thống phân loại mới, tác giả tách chi Nothofagus ra khỏi họ Fagaceae thành một họ riêng (Takhtajan,1997) [78]. - Phân chia số chi trong họ: Số chi trong họ Dẻ có nhiều quan điểm phân chia khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng họ Dẻ có 9 chi: Castanea, Castanopsis, Lithocarpus, Fagus, Quercus, Cyclobalanopsis, Trigonobalanus, Formanodendron, Colombobalanus (Nothofagus) (Crept W. Quan điểm thứ hai phân chia họ Dẻ thành 7 chi: Quescus, Lithocarpus, Fagus, Castanopsis, Castanea, Trigonobalanus và Cyclobalanuso (Takhtajan, 1997 [78]; Govaerts R. Quan điểm thứ 3 lại chỉ ra rằng họ Dẻ có 8 chi (Li yan, 2009 [65]; Zhou wei, Xia 7 nianhe, 2011 [82]; Wu yun-nan và cộng sự, 2014 [83]; Guan xiao-li và cộng sự, 2015 [48]). - Phân chia số loài trong họ: Tƣơng tự nhƣ quan điểm phân chia số chi trong họ, số loài trong họ Dẻ cũng đƣợc nhiều tác giả phân loại khác nhau.

Với quan điểm thứ nhất: họ Dẻ có khoảng 700 - 800 loài (Crept W. Quan điểm thứ hai chỉ ra họ dẻ có khoảng 900 loài (Takhtajan, 1997 [78]; Huang Cheng -chieu và cộng sự, 1999 [51]; Li Yan, 2009 [65]; Zhou Wei and Xia Nianhe, 2011 [82]; Wu Yun-nan và cộng sự, 2014 [83]). Quan điểm thứ ba lại cho rằng họ Dẻ có trên 1. Năm 1996, Li jian-qiang tổng hợp đƣợc 1.066 loài đã công bố tại bảng 1.2, tuy nhiên một số loài có thể trùng lặp ở các vùng khác nhau (Li jian-qiang, 1996) [61].

Phân bố họ Dẻ trên thế giới theo vùng Trigonobalanus Lithocarpus Castanopsis Castanea Quercus Tổng số Tổng Fagus Vùng phân bố chi số loài Phƣơng Bắc 1 1 10 3 12 Đông Châu 98 59 4 11 97 5 269 Tây Đại dƣơng và Bắc Mỹ 5 1 38 3 44 Núi Rocky 38 1 38 Địa Trung hải 1 1 31 3 33 Iran-Turanian 1 1 11 3 13 Madrean 1 1 1 1 33 5 37 Ấn độ 7 4 18 3 29 Đông Dƣơng 94 70 1 118 4 283 Malaysia 118 34 1 19 4 172 Caribae 1 135 2 136 8 Tổng cộng 318 168 13 16 3 548 36 1.066 Nguồn: Li jian-qiang, 1996 [61]. Phân bố họ Dẻ trên thế giới theo quốc gia Phân bố Số loài Trung Quốc Campuchia Colombia Nhật Bản Malaysia Thái Lan Châu Âu Canađa Burma Ấn Độ Mỹ Lào Chi Quercus 22 28 26 4 32 21 27 56 6 33 14 Trigonobalanus 1 1 1 3 Lithocarpus 40 60 52 20 13 117 2 2 1 Castanopsis 26 27 27 10 12 14 102 1 2 Castanea 1 3 3 1 2 2 Fagus 2 5 5 1 1 Cyclobalanus 66 2 Tổng cộng 88 121 105 35 45 48 32 350 15 40 20 3 Nguồn: Govaerts, R.2 cho thấy Châu là vùng có số loài dẻ phân bố nhiều nhất, đứng đầu là Trung Quốc có 7 chi với 350 loài, thấp nhất là Colombia mới ghi nhận có duy nhất 1 chi với 3 loài. - Phân loại loài Dẻ anh: Dẻ anh đƣợc nhiều nhà phân loại nghiên cứu và xếp vào các chi khác nhau với các tên khoa học sau: Castanopsis piriformis Hickel & A. Castanopsis piriformis Hickel & A.

Castanopsis piriformis (Seem. 9 Lithocarpus piriformis (Seem. Lithocarpus pyriformis (Von Seemen) Rehder (Laming P. và cộng sự, 1995 57, Takhtajan A.

Nhƣ vậy, Dẻ anh có các tên gọi khác nhau, cùng hoặc khác tên chi (Castanopsis hoặc Lithocarpus) hoặc cùng tên loài, nhƣng khác nhau ở tên tác giả. Nhiều tác giả thống nhất Dẻ anh có tên khoa học là Castanopsis piriformis Hickel & A. Camus thuộc chi Castanopsis họ Fagaceae, bộ Fagales, lớp Magnoliopsida, ngành Magnoliophyta (Forman L. và cộng sự, 1995 57; www.com [90]) và đây chính là loài mà tác giả nghiên cứu.

Ngoài danh pháp quốc tế, ở mỗi địa phƣơng Dẻ anh đƣợc dùng với các tên khác nhau. Ở Lào, Dẻ anh có tên gọi là Co (Khamleck Xaydala, 2004) 16, ở Thái Lan, Dẻ anh đƣợc gọi với các tên khác nhau nhƣ Ko bai lueam (vùng Đông Bắc), Ko ta mu, Ko mak, Kho hin (miền Đông) và Ko kin luk bán đảo Songkhla (Chamlong Phengklaia, 2006) [38]. Đặc điểm hình thái và vật hậu - Hình thái: Các tác giả chủ yếu mô tả đặc điểm hình thái các bộ phận chính của cây nhƣ thân, lá, hoa và quả. Theo Lecomte (1910 - 1928) 58 lá Dẻ anh dài 13 - 16 cm, rộng 3 - 5,5 cm, gân lá có 7 - 8 cặp, cuống hoa đực dài 10 - 12 cm, hoa cái dài 15 cm, quả có kích thƣớc 2 - 2,5 cm.

Khi nghiên cứu ở Lào, Khamleck (2004) [16] nhận xét Dẻ anh là cây gỗ lớn, cao 20 - 25 m, đƣờng kính 40 - 60 cm, lá hình thon, dài 12 - 14 cm, rộng 4 - 4,7 cm, mép lá nguyên, gân phụ 12 - 14 đôi, mặt trên không có lông, mặt dƣới có lông ngắn dày, cuống lá dài 1 cm, gié quả dài 12 - 15 cm, đấu quả có vảy thƣa bao kín hạch. Tác giả Chamlong Phengklaia (2006) [38] nghiên cứu tại Thái Lan cho 10 thấy Dẻ anh có lá dài 7 - 10 cm, hoa có 6 - 12 nhánh hoa, quả đấu, hình ô van từ 2 - 3 cm, cuống quả dài 10 cm, có vảy xếp đè lên nhau, phiến lá mỏng. - Vật hậu: Theo Chamlong Phengklaia (2006) 38 Dẻ anh ở Thái Lan mùa ra hoa từ tháng 9 đến tháng 12, quả chín từ tháng 5 đến tháng 12 năm sau, Dẻ anh có 2 mùa ra hoa. Đặc điểm phân bố và sinh thái - Vùng phân bố: Năm 1931, Lecomte M.

Nghiên cứu khác cho thấy Dẻ anh phân bố tự nhiên ở khu vực Đông Dƣơng nhƣ Campuchia, Lào, Việt Nam và Thái Lan (http://plants. Ở Thái Lan, Dẻ anh có phân bố tự nhiên tại vùng Đông Bắc ở tỉnh Nakhon Phanom, phía Đông ở tỉnh Ubon Ratchathani, vùng Đông Nam bộ ở tỉnh Prachinburi và tỉnh Chanthaburi và bán đảo Songkhala (Chamlong Phengklaia, 2006) [38]. - Sinh thái: Ở Thái Lan thì Dẻ anh thƣờng gặp ở kiểu rừng khộp, rừng cây lá kim và rừng thƣờng xanh khô ẩm trên nền đá sa thạch (Chamlong Phengklaia, 2006) 38; Dẻ anh phân bố ở rừng thƣờng xanh vùng Ban Phonnakai, rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim vùng Ban Parai, rừng bán thƣờng xanh cây họ Dầu ở vùng Ban Donkloy với các loài nhƣ Michelia champaca, Metadenia trichotoma và Dipterocarpus alatus (Tunwa Chaitieng và Thares Srisatit, 2013 79; www. Dẻ anh chiếm ƣu thế ở rừng thƣờng xanh với một số loài phổ biến nhƣ: Scaphium scaphigerum, Archidendron quocense và Hornstedtia glabra (W.Sakchoowong và cộng sự, 2008 84).

Ở Lào, Dẻ anh phân bố tập trung ở ven suối trong kiểu rừng lá rộng thƣờng xanh ở vĩ độ từ 14o05’ - 16o (Khamleck, 2004) [16]. 11 - Độ cao phân bố: Theo nghiên cứu của Khamleck (2004) 16 ở Lào thì Dẻ anh phân bố tập trung ở độ cao từ 300 - 1.000 m so với mực nƣớc biển. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Chamlong Phengklaia (2006) 38 về loài Dẻ anh ở Thái Lan, tác giả cho rằng Dẻ anh thƣờng phân bố ở độ cao 250 - 950 m so với mực nƣớc biển. Ngoài ra, tác giả W.Sakchoowong và cộng sự (2008) 84 cho biết ở vùng Khao Prabad (Thái Lan) Dẻ anh tạo thành nhóm ƣu thế sinh thái ở độ cao 1.069 m so với mực nƣớc biển.

Chọn giống và nhân giống Dẻ ăn hạt - Chọn giống: Trung Quốc đƣợc coi là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực chọn giống các loài Dẻ cho hạt ăn đƣợc với các loài điển hình nhƣ Castanea mollissima (Chinese chestnut), Castanea henryi, Castanea seguinii, Castanea davidii, hiện nay Trung Quốc đã chọn đƣợc 300 giống Dẻ ăn hạt để đƣa vào gây trồng các vùng chính ở phía Bắc, Tây, Tây Nam. Tại Nhật Bản đã chọn đƣợc loài Castanea crenata với tên gọi “Japanese chestnut”. Châu Âu với loài Castanea sativa đƣợc gọi với tên “Spanish chestnut”. Ở Châu Mỹ có các loài nhƣ Castanea dentata (American chestnut), Castanea pumila, phía Nam Mỹ điển hình các loài Castanea alnifolia, Castanea ashei, Castanea floridata và Castanea paupispina.

Pereira và cộng sự (2011) 71 đã phân tích gen của 593 cây ghép của loài Castanea sativa Mill. có độ tuổi 300 năm để lựa chọn dòng tốt nhất để gây trồng ở Iberian Peninsula, Canary Islands, and Azores. Nhiều tác giả đã chọn giống dẻ kích thƣớc hạt to, giống kháng bệnh hay theo chất lƣợng hạt (http://appalachianagroforestry. - Nhân giống: Theo Park (1968) 75 khi ghép giữa loài Castanea và Quercus cho tỷ lệ sống của chồi ghép từ 47 - 55 %.

Nhiều tác giả Moore. (1981) 73, Santamour (1988) 82, Huang và cộng sự (1994) 58, 12 Craddock và Bassi (1999) 47 cho rằng sự tƣơng thích giữa cành ghép và gốc ghép quyết định sự thành công của phƣơng pháp ghép. Paul Vossen cho rằng ghép một số loài dẻ ăn hạt nhƣ Castanea crenata, C. mollissima có mức độ tƣơng thích rất thấp khi dùng cành ghép và gốc ghép của các loài khác nhau; áp dụng phƣơng pháp ghép mắt, chữ T hoặc áp cho tỷ lệ sống khá cao tùy thuộc vào từng loài (http://anrcatalog.

Tác giả Seferoglu và Ertan (2003) 83 cho biết sau khi ghép 45 - 60 ngày cây ghép đã liền sinh và phát triển tốt. Theo Cohen và cộng sự (2007) [46] sự thành công của phƣơng pháp ghép phụ thuộc vào vết tiếp hợp giữa cành ghép và gốc ghép. Thế hệ lai F1 giữa Castanea mollissima và C. dentata đã tạo đƣợc 185 cá thể lai sinh trƣởng phát triển tốt và kháng đƣợc bệnh Cryphonectria parasitica (http://digitalcommon.

(2013) 84 cho biết sau khi ghép 30 ngày cành ghép và gốc ghép đã tiếp hợp, sau 60 ngày đã tạo mô sẹo tại vết ghép.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ