CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1. Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán phái sinh 1. Khái niệm và lịch sử hình thành TTCK phái sinh Khái niệm: Chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính dưới dạng hợp đồng bao gồm hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, trong đó xác nhận quyền và nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tiền, chuyển giao số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã được xác định trong khoảng thời gian hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai (Khoản 9 Điều 4 Luật chứng khoán 2019). Tài sản cơ sở, hay còn gọi là tài sản gốc trong các hợp đồng phái sinh thường là những tài sản có giá trị biến động thường xuyên và liên tục.
Các tài sản này thường rất đa dạng, trong những thời kỳ sơ khai, tài sản cơ sở đơn giản chỉ là ngũ cốc, lúa mỳ, chất đốt, kim loại quý hiếm…(Đỗ Thị Kim Hảo, 2015). Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, các tài sản cơ sở cho hợp đồng phái sinh ngày càng đa dạng và phong phú hơn điển hình như trái phiếu, cổ phiếu, chỉ số chứng khoán, lãi suất, các loại tiền tệ… hoặc nâng cao hơn nữa, tài sản cơ sở lại là một công cụ phái sinh khác như hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn. Chứng khoán phái sinh có nhiều bằng chứng chỉ ra rằng thị trường chứng khoán phái sinh đầu tiên là thị trường phi tập trung (OTC-over the counter). Tuy nhiên, việc đàm phán và ký kết hợp đồng chủ yếu được thực hiện tại các địa điểm cụ thể, nơi mà ngay từ sớm thị trường phái sinh đã thể hiện những đặc điểm khác nhau của một thị trường giao dịch có tổ chức (Kummer 2012).
Lịch sử của các công cụ phái sinh bắt nguồn từ nguồn gốc của thương mại ở Mesopotamia trong thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên. Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, các hợp đồng vận chuyển hàng hóa trong tương lai tiếp tục được sử dụng ở Đế chế Byzantine ở Đông Địa Trung Hải và chúng vẫn tồn tại trong giáo luật ở Tây Âu. Trong thời kỳ Phục hưng, thị trường tài chính trở nên tinh vi hơn ở Ý. Hợp đồng giao chứng khoán trong tương lai lần đầu tiên được sử dụng trên quy mô lớn ở Antwerp và sau đó là Amsterdam vào thế kỷ 16.
11 Giao dịch chứng khoán phái sinh lan rộng từ Amsterdam đến Anh và Pháp vào cuối thế kỷ 17. Các hợp đồng về gạo cũng được giao dịch tại Nhật vào những năm 1700 và giao dịch phái sinh lan rộng từ Pháp đến Đức vào đầu thế kỷ 19. Khoảng năm 1870, những người hành nghề tài chính đã phát triển các công cụ đồ họa để biểu diễn các hợp đồng phái sinh. Biểu đồ lợi nhuận giúp các nhà khoa học trẻ có thể tiếp cận các công cụ phái sinh, bao gồm Louis Bachelier và Vinzenz Bronzin, những người có kiến thức toán học để phân tích nghiêm ngặt về định giá phái sinh.
Tại Mỹ, các giao dịch phái sinh bắt đầu chính thức từ năm 1948 với hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500. Một số cột mốc quan trọng trong lịch sử của các công cụ phái sinh cho thấy rằng các công cụ phái sinh đầu tiên được phát triển để đảm bảo nguồn cung hàng hóa về thời gian và khoảng cách địa lý cũng như bảo vệ và phòng ngừa rủi ro về giá cả. Ở giai đoạn đầu của lịch sử, các công cụ phái sinh được sử dụng để nhận ra lợi nhuận nhanh chóng với rủi ro mặc định và đã xảy ra tình trạng lạm dụng khiến các chính phủ phải can thiệp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nhà đầu tư, đồng thời tránh rủi ro hệ thống xảy ra. Tiếp đó hình thành các quy định cấm, hạn chế, giám sát chặt chẽ một số loại hình phái sinh.
Sự ra đời của các công cụ phái sinh là một tất yếu của một chu trình phát triển để hỗ trợ và giải quyết các vấn đề trong kinh doanh khi thị trường đã đạt tới một sự phát triển sâu và rộng. Một trong những nhân tố lớn nhất thúc đẩy sự ra đời của thị trường này chính là sự biến động khó lường của giá cả hàng hóa, tỷ giá, lãi suất… trên thị trường, điều này sẽ gây ra những thiệt hại, rủi ro nhất định trong hoạt động kinh doanh. Để hạn chế những bất lợi có thể xảy ra trái với những dự tính trong sản xuất kinh doanh, các nghiệp vụ phái sinh được hình thành và ngày càng được sử dụng rộng rãi không chỉ để phòng ngừa hạn chế rủi ro mà còn để đầu tư tìm kiếm lợi nhuận. Các công cụ phái sinh Hợp đồng kỳ hạn: Là thỏa thuận mua bán một lượng tài sản, tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá xác định tại thời điểm ký hợp đồng.
Trong một hợp đồng kỳ hạn, một bên sẽ ở vị thế bán khi đồng ý bán, và ngược lại, một bên sẽ ở vị thế mua khi đồng ý mua tài sản vào thời điểm tương lai với mức 12 giá thống nhất. Mục đích chính của hợp đồng kỳ hạn dùng để phòng ngừa rủi ro biến động giá của hàng hóa được giao dịch. Hợp đồng tương lai: Là một hợp đồng (thỏa thuận) về việc mua hoặc bán một lượng tài sản (tài chính hoặc phi tài chính) với giá cố định tại một thời gian trong tương lai. Sẽ có những điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng tương lai so với hợp đồng kỳ hạn, đó chính là việc ngày giao hàng chính xác thường không được quy định cụ thể, ngày nay sẽ có những chuẩn hóa và so sánh giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn về hai loại hợp đồng này: Bảng 1.1: Bảng so sánh hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn Tiêu chí Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng tương lai Điều kiện Tất cả các điều khoản đều có Các điều khoản được giao dịch thể thương lượng và là sự thỏa chuẩn hóa thuận riêng lẻ giữa hai bên Rủi ro Tồn tại rủi ro thực hiện (vì Không có rủi ro không vậy sẽ phụ thuộc vào mức độ tín thực hiện nhiệm và phải đặt cọc) Dòng tiền Không có sự dịch chuyển Dòng tiền luân chuyển dòng tiền (Trừ khoản tiền đặt cọc) hàng ngày vì giá biến động theo thị trường để đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng Chi phí giao Chi phí cao do phải chi trả Chi phí thấp dịch nhiều khoản kèm theo như môi giới trung gian, lập hợp đồng Thị trường Không có thị trường thứ cấp Được giao dịch trên sàn giao dịch và không thể giao dịch trước thời giao dịch có tổ chức, có tính gian đáo hạn thanh khoản, nhà đầu tư có thể mua bán trước thời gian đáo hạn.
Nguồn: Phân tích đầu tư chứng khoán (Tôn Tích Quý, 2014) 13 Quyền chọn cổ phiếu: Một quyền chọn cổ phiếu cho phép người nắm giữ nó có quyền (không phải là nghĩa vụ) mua (đối với quyền chọn mua) hoặc bán (đối với quyền chọn bán) một cổ phiếu tại một thời điểm với một mức giá xác định. Hiện tại, quyền chọn cổ phiếu đã và đang phát triển rất mạnh mẽ ở nhiều thị trường phát triển với các hình thức khác nhau như quyền chọn cổ phiếu, quyền chọn chỉ số và quyền chọn tiền tệ…Tại Việt Nam, hiện chỉ có sản phẩm chứng quyền có đảm bảo, được ra đời phục vụ cho nhà đầu tư một kênh đầu tư mới dựa trên nền tảng là những cổ phiếu trong rổ chỉ số VN30 đang được giao dịch trên sàn HOSE.2 Cơ sở lý luận các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào TTCK phái sinh 1.1 Các lý thuyết nền tảng về đầu tư tài chính Về bản chất đầu tư vào TTCK phái sinh là đầu tư tài chính do vậy xem xét một số lý thuyết nền tảng về đầu tư tài chính.1 Các thuyết đầu tư tài chính Thuyết thị trường hiệu quả (EMH – Efficient Markets Hypothesis) (Eugene Fama, 1965): mọi thông tin trên thị trường chứng khoán đều được phản ánh một cách đầy đủ thông qua giá cổ phiếu. Tại EMH, cổ phiếu luôn được thị trường định giá tại khoảng giá xác định, điều này sẽ khiến cho các nhà đầu tư có nhu cầu thực tế khó có thể mua được cổ phiếu đó ở những vùng giá thấp hơn hoặc bán ở những vùng giá quá cao. Do đó, xét tổng chung toàn thị trường không thể lựa chọn cổ phiếu dựa trên phân tích kỹ thuật hay cơ bản để tìm ra những cổ phiếu có lợi nhuận vượt trội hơn thị trường.
Bởi vậy nhà đầu tư chỉ có thể thu lợi nhuận cao hơn nếu lựa chọn đầu tư vào những cổ phiếu có tính rủi ro cao hơn và ngược lại. Một thị trường hiệu quả khi mọi thông tin phản ánh một cách hiệu quả, tức giá của tất cả các loại tài sản được giao dịch phản ánh được mọi thông tin trên thị trường. Do đó sẽ không có sự bất cân xứng trong lợi thế thông tin của mọi nhà đầu tư, sẽ không ai được lợi và không ai bị thiệt (thông tin nội gián – các giao dịch liên quan đến yếu tố thông tin nội gián không được xem là thị trường EMH), đồng thời sẽ phản ánh toàn bộ niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường. Bên cạnh đó, EMH cũng chỉ ra rằng, thông tin tại thị trường hiệu quả là bất cứ thông tin nào có thể 14 ảnh hưởng tới giá mà xuất hiện ngẫu nhiên trong tương lai và không thể biết trước.
Chính sự ngẫu nhiên này là yếu tố phản ánh một cách chính xác nhất những biến động cụ thể nhất về mặt biến động giá của một tài sản như cổ phiếu, trái phiếu… trên thị trường. Các phiên bản của thị trường hiệu quả: EMH tồn tại ở phiên bản: Dạng yếu (weak form), dạng mạnh (strong form) và dạng vừa (Semi-strong form). EMH giả định nhà đầu tư nhận thức các thông tin trên thị trường là như nhau, sự khác nhau nằm ở phương pháp và trường phái đầu tư khác nhau để định giá cổ phiếu với các mức tiềm năng tăng trưởng khác nhau. Do đó các thuyết phản đối lại EMH cho rằng, vì có sự khác nhau giữa hiệu quả đầu tư của các nhà đầu tư, nên giả thuyết EMH không đúng với thị trường chứng khoán.