Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 123doc 6 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2.
Tổng quan lý thuyết Lý thuyết tăng trưởng cung cấp cách để quan sát và giải thích sự tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu. Lý thuyết tăng trưởng là một công cụ để hiểu rõ hơn về các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua cung cấp các mô hình, cơ chế, các giải thích và sự kỳ vọng. Theo thời gian, nhiều lý thuyết nền và các bằng chứng thực nghiệm đã được thực hiện với mục đích xác định các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, từ đó đưa ra các đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách quốc gia để lắp đầy khoảng cách giữa quốc gia đã phát triển và đang phát triển cũng như tạo ra sự phát triển bền vững (De Jager, 2004). Đồng thời, trong phần này, luận văn tập trung phân tích lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh exogenous growth) và lý thuyết tăng trưởng nội sinh (endogenous growth).
Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh, thường được biết đến với cái tên là lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển hoặc lý thuyết tăng trưởng Solow – Swan, được đề xuất bởi Solow (1956). Lý thuyết này giả định rằng tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy thông qua các yếu tố ngoại sinh của hàm sản xuất chẳng hạn như vốn tích lũy và lao động. Đồng thời, Barro và Sala – I – Martin (1995) đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế và vốn được tích lũy qua thời gian có mối quan hệ cùng chiều với nhau. Theo đó, lý thuyết này giả định rằng lượng lao động và mức độ công nghệ không thay đổi, khi đó sự gia tăng trong vốn đầu tư sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia (Barro và Sala – I – Martin, 1995; De Jager, 2004).
Do đó, tăng trưởng kinh tế chỉ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn bởi yếu tố vốn tích lũy, mà yếu tố này được xác định bởi tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ chiết khấu. Mặt khác, tăng trưởng kinh tế cũng 123doc 7 được quyết định bởi các yếu tố ngoại sinh khác như tiến bộ công nghệ kỹ thuật trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995). Cho nên tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phụ thuộc vào vốn tích lũy và lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao. Kết quả là, khi các nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia nhận đầu tư và đưa ra các công nghệ kỹ thuật cao đối với quá trình sản xuất của quốc gia sở tại thì có thể làm gia tăng năng suất của lực lượng lao động và vốn (De Jager, 2004).
Nhìn chung, lý thuyết này lập luận rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp sẽ tăng cường nguồn vốn của quốc gia sở tại. Và sau đó sẽ thúc đẩy răng trưởng kinh tế với một trạng thái ổn định mới bằng việc tích lũy nguồn vốn này. Từ đây có thể thấy rằng lập luận của lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thông qua việc cải thiện đầu tư trong nước (Herzer và Klasen, 2008). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Vào những năm 1980, khi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách nhận thấy lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh không giải thích đầy đủ các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995), thì Romer (1986) đã đề xuất lý thuyết tăng trưởng nội sinh khi tập trung vào việc phân tích hai yếu tố.
Theo đó lý thuyết này xác định tăng trưởng kinh tế xuất phát từ vốn con người và sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004). Cơ chế của lý thuyết này liên quan đến việc vốn con người là sự gia tăng trong lực lượng lao động. Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy ngoại sinh với tốc độ gia tăng không thay đổi. Sau đó, sự tăng trưởng kinh tế này sẽ được kích thích bởi sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật, điều này cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy nội sinh thông qua việc lực lượng lao động thay đổi công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004).
Tuy nhiên, đặc điểm chỉnh của lý thuyết này là sự thiếu hiện diện của sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư (Ho và các cộng sự, 2007). Do đó, sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật dưới hình thức tạo 123doc 8 ra nhiều ý tưởng mới sẽ là yếu tố then chốt trong việc bỏ qua sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư trong dài hạn. Lý thuyết này lập luận rằng sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật sẽ được cải thiện nội sinh bằng cách sao chép các kiến thức từ việc nghiên cứu và phát triển (R&D) và việc phát triển kiến thức này có thể tạo ra ngoại tác tích cực và hiệu ứng lan tỏa tăng trưởng kinh tế (Barro và Sala – I – Martin, 1995; Ho và các cộng sự, 2007). Kết quả là, việc nghiên cứu và phát triển, sự tích lũy về vốn con người và hiệu ứng lan toản kiến thức có thể được xem như là các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Meyer, 2003).
Hiệu ứng lan tỏa xảy ra khi kiến thức được tạo ra từ việc nghiên cứu và phát triển ở một quốc gia có thể tạo ra tác động tích cực ở quốc gia khác (De Mello, 1997). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh xác định tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy trong dài hạn bằng việc đưa ra các quy trình công nghệ kỹ thuật cao ở quốc gia sở tại và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được giả định rằng hiệu quả hơn đầu tư nội địa (De Mello, 1999; Herzer và Klasen, 2008). Do đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ cải thiện tăng trưởng kinh tế thông qua sự lan tỏa công nghệ kỹ thuật. Lý thuyết về thể chế Đã có rất nhiều khái niệm về thể chế (institution) khác nhau được đưa ra, nhưng cho tới nay vẫn chưa có khái niệm nào nhận được sự đồng thuận rộng rãi.
Sở dĩ như vậy là vì mỗi tác giả tiếp cận thể chế trên các góc độ khác nhau, mục tiêu phân tích cũng như phạm vi phân tích cũng khác nhau. Mặc dù vậy, lại có sự đồng thuận về những gì không nằm trong khái niệm thể chế. Thể chế không không phải là vốn tự nhiên hay mang đặc điểm của vốn tự nhiên như đất đai, khoáng sản hay sông ngòi; cũng không phải là vốn sản xuất như nhà máy hay đường sá. Thay vào đó, nó mang những đặc trưng gắn với con người trong xã hội, nhưng lại không phải là các đặc tính thuần túy liên quan tới sinh học, năng lực hay sở thích (Davis, 2010).
Và như vậy, thể chế cũng không phải là vốn con người. Ngoài ra, mặc dù liên quan mật thiết tới vốn xã hội, nhưng thể chế cũng không đơn thuần là vốn xã hội. 123doc 9 Ở khía cạnh khác, thể chế cũng không bó gọn trong một lĩnh vực cụ thể của đời sống con người. Nó không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế như phân bố nguồn lực khan hiếm; đến vấn đề chính trị như cấu trúc hay sự phân chia quyền lực nhà nước; mà còn liên quan tới cả vấn đề xã hội như sự công bằng hay vấn đề môi trường như kiểm soát sự ô nhiễm.
Nó hiện diện ở mọi lĩnh vực trong đời sống con người, xuyên suốt và kết nối các lĩnh vực với nhau để hình thành một chỉnh thể có tổ chức của các cộng đồng. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, hầu hết các khái niệm về thể chế đều đặt trọng tâm vào các nhân tố mang tính xã hội mà ít nhiều ảnh hưởng đến hành vi của con người. John Commons, một trong những nhà kinh tế học thể chế thời kỳ đầu, đã xem thể chế như một dạng hành động tập thể nhằm đạt được sự kiểm soát, giải phóng và mở rộng hành động cá nhân (Commons, 1931). Các mục tiêu hướng tới ở đây của thể chế vừa đối lập vừa thống nhất với nhau.
Các thỏa thuận của xã hội trong kiểm soát hành động cá nhân, trong những phạm vi nhất định, chính là điều kiện để đảm bảo và mở rộng sự tự do của mọi thành viên trong xã hội. Định nghĩa về thể chế hiện được dẫn nhiều nhất hiện nay là của Douglas North, nhà kinh tế học thể chế đi tiên phong trong việc xây dựng khung khổ phân tích, tích hợp các vấn đề thể chế vào mổ xẻ các vấn đề kinh tế. Cách tiếp cận của North không chỉ được các nhà kinh tế sử dụng, mà còn được nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khoa học xã hội khác bổ sung, chỉnh sửa nhằm đặt nền móng cho các phân tích của họ về thể chế. North (1994) cho rằng thể chế là những ràng buộc do con người đặt ra để tạo khuôn khổ cho các mối quan hệ tương tác của mình.
Thể chế bao gồm các ràng buộc chính thức (quy tắc, luật, hiến pháp.) và phi chính thức (chuẩn mực hành vi, tục lệ, quy tắc ứng xử.), và các đặc trưng thực thi của chúng. Thể chế chính là "luật chơi" còn tổ chức và cá nhân trong đó là "người chơi". 123doc 10 Ở khía cạnh khác, North (1990) khẳng định rằng khi kết hợp với nhau, các thể chế xác định cấu trúc động cơ của xã hội và nền kinh tế. Chúng có thể được tạo ra hoặc tiến triển theo thời gian, và được con người thay đổi.
Quan niệm của North trước hết xuất phát từ cá nhân, tiếp theo cách phân tích sự kết hợp giữa các lựa chọn cá nhân với các ràng buộc thể chế lên các tập hợp lựa chọn đó. Thể chế bao hàm 3 đặc điểm chính: i) Do con người tạo ra; ii) Xác định cấu trúc động cơ và hình thành quan hệ tương tác; và iii) Có các ràng buộc chính thức và phi chính thức, và có các đặc trưng về mặt thực thi.