chương I) mà bao trùm cả thương mại dịch vụ (chương II); quan hệ đầu tư (chương IV); Bản quyền-tài sản trí tuệ (chương III); Các quy định về xúc tiến thương mại (chương V); Các vấn đề về minh bạch hoá trong chính sách (chương VI). Đây là Hiệp định có thời giam đàm phán lâu nhất (trải qua 11 vòng đàm phán trong suốt 4 năm, từ 9/1996 đến 7/2000) và phức tạp nhất (gồm 72 điều) trong lịch sử Việt Nam, là Hiệp định đầu tiên mà chúng ta đàm phán theo các tiêu chuẩn của WTO, do đó bao gồm cả những cam kết và lộ trình thực hiện cụ thể. Mặc dù chỉ là một nội dung trong Hiệp định thương mại song chương phát triển quan hệ đầu tư (chương IV) có nội dung tương tự như một hiệp thương mại song phương hoàn chỉnh về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa 2 nước. Theo đó 2 bên cam kết các vấn đề sau: + Nguyên tắc khuyến khích và bảo hộ đầu tư.
+ Cam kết cụ thể về đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc. + Các quy định về bảo hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư; minh bạch hoá pháp luật, chính sách về đầu tư nước ngoài bằng cách công bố công khai và nhanh chóng các luật, các quy định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư; không áp đặt các yêu cầu đối với chuyển giao công nghệ, quy trình sản xuất. Như vậy, các cam kết về đầu tư trong Hiệp định đã được xây dựng với mục tiêu tổng thể là tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng và thuận lợi hơn nữa cho thu hút đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam.Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam. Hiệp định Thương mại khi áp dụng, Mỹ sẽ áp dụng thuế suất phù hợp với quy định của WTO (ước tính thuế nhập khẩu trung bình của hàng hoá Việt Nam vào Mỹ sẽ giảm từ 40% xuống còn 4%), loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, các hạn chế định lượng và mở đường cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường Mỹ.
Về phía mình, Việt Nam cam kết sẽ loại bỏ các rào cản phi thuế quan, giảm mức thuế đối với hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam và do đó sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng Việt Nam mua hàng hoá của Mỹ với giá rẻ hơn. Các điều khoản ưu đãi đầu tư và việc cho phép các công ty góp vốn liên doanh tham gia rộng hơn các hoạt động xuất nhập khẩu sẽ thúc đẩy đầu tư và các hoạt động kinh doanh của Mỹ ở Việt Nam. Hiệp định Thương mại không những thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam vào một trong những thị trường lớn nhất thế giới, mà còn tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Những lợi ích của Hiệp định Thương mại song phương đối với Việt Nam bao gồm: Thứ nhất, tăng hiệu quả của nền kinh tế.
Việc tự do hoá thương mại và các thành phần kinh tế tham gia rộng rãi hơn nữa trong hoạt động ngoại thương sẽ làm cho các ngành hàng hay doanh nghiệp có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh trong thương mại với Mỹ có cơ hội để phát triển. Những ngành hàng hoặc doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh yếu và trước đây được bảo hộ trong các hoạt động xuất nhập khẩu sẽ gặp khó khăn và có thể suy giảm, để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh các đối tượng này phải áp dụng các biện pháp tăng năng xuất và chất lượng, giảm giá thành, đổi mới công nghệ và công tác quản lý và có động lực nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Xét trên tổng thể nền kinh tế, việc thi hành các cam kết trong Hiệp định Thương mại, trong một chừng mực nào đó, sẽ có những tác động theo hướng phát huy lợi thế so sánh, tăng hiệu quả đầu tư của nền kinh tế. Các nguồn lực khan hiếm của xã hội sẽ được phân phối lại hợp lý hơn và phản ánh đúng hơn tín hiệu của thị trường theo hướng phát triển các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh dẫn đến hiệu quả của tổng thể nền kinh tế được nâng lên.
12 Thứ hai, cải thiện khả năng của các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Đối với các ngành xuất khẩu trước đây phải chịu mức thuế nhập khẩu cao, khó khăn thâm nhập thị trường Mỹ nay sẽ có cơ hội để phát triển. Bên cạnh đó, việc cho phép các công ty của Mỹ được đầu tư và tham gia hoạt động thương mại của một số ngành hàng Việt Nam sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngành hàng này phát triển hơn trong tương lai. Trong số các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam có dệt may, quần áo, công nghiệp nhẹ và một số mặ hàng nông sản sẽ thu được lợi nhiều nhất do thuế nhập khẩu vào thị trường Mỹ giảm mạnh.
Sự phát triển của các ngành hàng xuất khẩu trên sẽ làm xuất hiện những ngành hàng mới và kéo theo các hiệu ứng tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư. Chúng ta có thể so sánh giữa trước và sau khi BTA được kí kết Năm 1999 giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt 601 triệu USD/năm, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực mà Mỹ đã áp dụng quy chế quan hệ bình thường và là thành viên của WTO. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chỉ bằng 1/35 của Malaixia và 1/23 của Thái Lan1. Còn nếu xét về cơ cấu xuất nhập khẩu sang thị trường Mỹ trong tổng xuất nhập khẩu cũng rất nhỏ bé.
Trong suốt giai đoạn 1994-1999, xuất khẩu sang thị trường Mỹ chỉ chiếm 4-5% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và nhập khẩu từ Mỹ chỉ đạt 2,4% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Trong khi đó các tỷ lệ này của Thái Lan là 17,4% và 10,3% và Malaixia là 19,4% và 11,9%.2 1 Đáng lưu ý là do một lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ phải qua nước thứ ba, chủ yếu là Singapore nên số liệu của Việt Nam và Mỹ về xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ chênh lệch khá lớn. Khi hiệp định thương mại được thực hiện, do giảm xuất khẩu hàng hoá qua trung gian nên xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ có cơ hội tăng mạnh hơn nữa. Có ý kiến cho rằng năm 1999 "giá trị kim ngạch nhập khẩu của Mỹ là 1227 tỷ USD trong đó Việt Nam đóng góp 600 triệu USD, do đó dù Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ tới 1 tỷ USD thì cũng chỉ như muối bỏ bể".
2 So với các thị trường có mức thu nhập và tiêu dùng bình quân đầu người tương đương, hiện nay thị trường Mỹ chỉ chiếm 4,8% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam so với các nước châu Âu là 24% và Nhật Bản là 28,7%. 13 Bảng 1: Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của một số nước trong khu vực với Mỹ năm 1999 (triệu USD) Xuất khẩu Nhập khẩu Thái Lan 14324 4984 Inđônêxia 9514 1939 Malaixia 21429 9079 Philipin 12380 7226 Việt Nam 601 277 Nguồn: Bộ thương mại Mỹ Hình 2: Tỷ trọng xuất nhập khẩu sang Mỹ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một số nước Đông Nam á và Trung Quốc năm 20073(%) Nguồn: Tính toán từ các nguồn của Bộ Thương mại Mỹ và Báo cáo Phát triển Con người 2008. Thứ ba, hiệp định thương mại đ ã mở đường cho Việt Nam gia nhập WTO và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. 3 Theo tính toán của Mỹ thì xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ cao hơn nhiều, chiếm khoảng 28% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc, do hàng Trung Quốc xuất sang Hồng Kông và tái xuất sang Mỹ.
14 Khi đã ký kết Hiệp định Thương mại với Mỹ thì tiến trình gia nhập WTO sẽ trở nên dễ dàng hơn do các điều lệ và quy định của Mỹ gần với khuôn khổ của WTO. Thêm nữa, Mỹ có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của tổ chức này nên ký được hiệp định song phương với Mỹ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Thứ tư, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Một trong những kênh quan trọng của chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý là thông qua đầu tư trực tiếp.
Thông qua Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trên đất Việt Nam sẽ tiếp cận thị trường Mỹ được dễ dàng hơn, do đó Việt Nam không những sẽ tăng thu hút được đầu tư của Mỹ mà còn của các nước khác nhằm khai thác thị trường Mỹ. Thách thức. Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích đem lại, việc Hiệp định Thương mại Việt Mỹ cũng sẽ tạo ra những thách thức lớn đối với Việt Nam. Các doanh nghiệp trước đây được hưởng lợi từ sự bảo hộ của một nền kinh tế đóng thì nay sẽ gặp khó khăn và các doanh nghiệp chịu thiệt thòi từ sự bảo hộ trước đây sẽ có cơ hội mở rộng và phát triển.
Những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt gồm có: Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong nước sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn hơn. Hiệp định Thương mại sẽ mở cửa cho hàng hoá của Mỹ vào thị trường Việt Nam, giá một số hàng hoá nhập khẩu từ Mỹ sẽ trở nên rẻ hơn và khả năng cạnh tranh của các mặt hàng này sẽ tăng lên so với các sản phẩm nội địa cùng loại. Số lượng các doanh nghiệp của Mỹ và các nước khác đầu tư vào thị trường Việt Nam sẽ tăng lên nhằm xuất khẩu sang thị trường Mỹ hay khai thác thị trường nội địa, do đó sẽ gây áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất trong nước. Không những trong lĩnh vực sản xuất mà cả trong lĩnh vực thương mại sức ép cạnh tranh cũng tăng.
Hoạt động xuất nhập khẩu một số mặt hàng trước đây chủ yếu do một số doanh nghiệp thực hiện, thì nay các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Mỹ hay doanh nghiệp tư nhân sẽ được phép tham gia. Nếu không có sự chuẩn bị cần thiết, các doanh nghiệp này sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong cạnh tranh. 15 Thứ hai, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường Mỹ .