Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở việt nam nghiên cứu trường hợp đại học quốc gia hà nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

252
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường đại học, đặc biệt là tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Đội ngũ trưởng bộ môn không chỉ là những người quản lý mà còn là những nhà lãnh đạo trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu. Họ đóng vai trò quyết định trong việc định hướng và phát triển chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học, và quản lý đội ngũ giảng viên.

1.1. Khái Niệm Về Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn

Đội ngũ trưởng bộ môn là những cá nhân có trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu trong bộ môn. Họ cần có kiến thức chuyên môn vững vàng và khả năng lãnh đạo để phát triển đội ngũ giảng viên và nâng cao chất lượng đào tạo.

1.2. Vai Trò Của Trưởng Bộ Môn Trong Giáo Dục

Trưởng bộ môn không chỉ là người quản lý mà còn là người định hướng nghiên cứu và phát triển chương trình đào tạo. Họ cần phải có khả năng hợp tác quốc tế và phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng việc phát triển đội ngũ trưởng bộ môn tại Đại học Quốc gia Hà Nội cũng gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, yêu cầu cao về chất lượng giáo dục và sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục đại học.

2.1. Sự Thay Đổi Nhanh Chóng Của Công Nghệ

Công nghệ thông tin và truyền thông đang thay đổi cách thức giảng dạy và nghiên cứu. Trưởng bộ môn cần phải cập nhật kiến thức và kỹ năng mới để đáp ứng yêu cầu này.

2.2. Yêu Cầu Cao Về Chất Lượng Giáo Dục

Chất lượng giáo dục ngày càng được đặt lên hàng đầu. Trưởng bộ môn cần phải đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế và nhu cầu của thị trường lao động.

III. Phương Pháp Phát Triển Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn Hiệu Quả

Để phát triển đội ngũ trưởng bộ môn hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn phù hợp. Các phương pháp này bao gồm tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo và chương trình trao đổi kinh nghiệm.

3.1. Tổ Chức Khóa Đào Tạo Chuyên Môn

Các khóa đào tạo chuyên môn giúp trưởng bộ môn nâng cao kỹ năng quản lý và lãnh đạo. Điều này không chỉ giúp họ phát triển bản thân mà còn nâng cao chất lượng giảng dạy trong bộ môn.

3.2. Chương Trình Trao Đổi Kinh Nghiệm

Chương trình trao đổi kinh nghiệm giữa các trường đại học trong và ngoài nước giúp trưởng bộ môn học hỏi những phương pháp giảng dạy và nghiên cứu mới, từ đó áp dụng vào thực tiễn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phát Triển Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn

Việc phát triển đội ngũ trưởng bộ môn không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho toàn bộ trường đại học. Những ứng dụng thực tiễn từ việc phát triển này có thể thấy rõ trong chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học.

4.1. Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo

Khi đội ngũ trưởng bộ môn được phát triển, chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao. Họ sẽ có khả năng thiết kế chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của sinh viên và thị trường lao động.

4.2. Tăng Cường Nghiên Cứu Khoa Học

Đội ngũ trưởng bộ môn có khả năng dẫn dắt các hoạt động nghiên cứu khoa học, từ đó tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị cho xã hội và nền kinh tế.

V. Kết Luận Về Phát Triển Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn Tại Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Phát triển đội ngũ trưởng bộ môn là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Cần có những chiến lược và giải pháp cụ thể để đảm bảo rằng đội ngũ này luôn được cập nhật và phát triển.

5.1. Chiến Lược Phát Triển Đội Ngũ

Cần xây dựng một chiến lược phát triển đội ngũ trưởng bộ môn rõ ràng, bao gồm các mục tiêu cụ thể và các phương pháp thực hiện hiệu quả.

5.2. Tương Lai Của Đội Ngũ Trưởng Bộ Môn

Tương lai của đội ngũ trưởng bộ môn tại Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi trong giáo dục và nghiên cứu, cũng như sự hỗ trợ từ các cấp lãnh đạo.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu ở việt nam nghiên cứu trường hợp đại học quốc gia hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRƯỞNG BỘ MÔN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về trường đại học nghiên cứu Ở Việt Nam chưa hình thành các trường ĐHNC thực sự, mà ĐHQGHN, ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh và một số trường ĐH lớn, có uy tín khác mới đang hướng tới xây dựng trường ĐHĐHNC. Chính vì vậy, những nghiên cứu về trường ĐHNC chủ yếu ở các tác phẩm của nước ngoài.

Các tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu về vai trò cũng như hoạt động của trường ĐHNC và nêu bật sự khác biệt của trường ĐHNC với các trường ĐH khác, cụ thể: Walshok, Mary Lindenstein nghiên cứu vai trò của trường ĐHNC đối với nền kinh tế, nơi làm việc và cộng đồng. Cuốn sách đề cập đến mối quan hệ giữa trường ĐHNC và nhu cầu tri thức của xã hội hậu công nghiệp, tập trung vào tầm quan trọng ngày càng tăng của việc tạo ra kiến thức và ứng dụng nó đối với sự thịnh vượng KT- XH. Nó cũng thảo luận về cách trường ĐHNC có thể xây dựng mối liên kết tốt hơn giữa việc mở rộng kiến thức trong cả nhà trường và xã hội, có thể tăng các ứng dụng và khả năng tiếp cận kiến thức đó. Các tác giả không chỉ đưa ra khái niệm về trường ĐHNC mà còn chỉ ra những thách thức mà trường phải đối mặt, cũng như vai trò của trường ĐHNC trong việc phát triển kiến thức và ứng dụng cho nền KT-XH [176].

Altbach lại đưa ra quan điểm về vai trò của trường ĐHNC là thúc đẩy nền kinh tế tri thức quốc gia và toàn cầu với nghiên cứu chuyên sâu tại các trường ĐHNC ở các nước đang phát triển trong bài báo khoa học “Advancing the national and global knowledge economy: the role of research universities in developing countries”. Ông cho rằng, trường ĐHNC là một phần trung tâm của tất cả hệ thống học thuật. Trường ĐHNC cũng là cầu nối quan trọng trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia với vai trò phát triển tri thức toàn cầu. Các sản phẩm nghiên cứu tại trường ĐHNC không chỉ được ứng dụng phổ biến trong sản xuất mà còn giúp các nước “xuất khẩu tri thức”.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu ở các nước đang phát triển, tác giả nhận thấy cơ chế cho sự tham gia của trường ĐHNC trong nền kinh tế tri thức toàn cầu rất 12 phức tạp và bao gồm các vấn đề về chuyển giao, sử dụng công nghệ, hợp tác và các yếu tố khác. Tuy nhiên, tác giả không thể không khẳng định vai trò quan trọng của trường ĐHNC trong hệ thống giáo dục quốc gia cũng như góp phần vào phát triển tri thức toàn cầu [124]. Altbach, Jorge Balan cho rằng trường ĐHNC là trung tâm của hệ thống học thuật thế giới. Cuốn sách “World class worldwide: Transforming Research Universities in Asia an Latin America” đã đưa ra định hướng chuyển đổi sang trường ĐHNC của các nước đang phát triển ở châu Á và châu Mỹ Latin là một biện pháp hiệu quả nhằm thúc đẩy phát triển nghiên cứu và ứng dụng cho nền KT-XH của mỗi quốc gia.

Thông qua trường ĐHNC, những thách thức về công nghệ mà nền sản xuất ở các nước đang phát triển phải đối mặt sẽ được giải quyết. Đây cũng là hướng phát triển hệ thống GDĐH hiện đại của thế kỷ XXI [125]. Ku thì chỉ ra vai trò của trường ĐHNC thông qua việc phân tích sự khác biệt với những trường ĐH khác, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá ở bài báo “Intercluster Innovation Differentials: The Role of Research Universities”. Dựa trên chức năng sản xuất tri thức, trường ĐHNC làm tăng sự đổi mới các nguồn lực tài chính, trí tuệ và nguồn vốn nhân lực.

Đặc biệt, các tác giả cho rằng trường ĐHNC đóng vai trò quan trọng là nguồn cung cấp tri thức và tạo ra NNL chất lượng cao giúp khu vực công tăng hiệu suất lao động [136]. Peter McPherson, David Shulenburger cũng nhấn mạnh vai trò của trường ĐHNC trong việc đáp ứng các mục tiêu quốc gia trong bài báo khoa học “Expanding Undergraduate Education to Meet National Goals: The Role of Research Universities”. Các tác giả cho rằng mục tiêu GD&ĐT chất lượng cao không chỉ dừng lại ở việc đào tạo công nghệ đã có, điều này sẽ làm cho nền KT-XH khó phát triển. Quan trọng trong 04 năm ĐH, người học cần phải sáng tạo liên tục và tự tạo ra những tri thức mới.

Muốn mở rộng hoạt động GD&ĐT chất lượng cao thì cần phải mở rộng các trường ĐHNC [163]. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về trường ĐHNC khá ít ỏi. Trên cơ sở trình bày lịch sử ra đời và khái niệm liên quan đến trường ĐHNC, Nguyễn Chí Hải và Nguyễn Hồng Nga đã phân tích một số đặc điểm của trường ĐHNC trên thế giới, đồng 13 thời đưa ra những thách thức trong việc hình thành một trường ĐHNC theo đúng nghĩa tại Việt Nam [48]. Phạm Thị Ly cũng có hai công trình nghiên cứu về trường ĐHNC, đó là: “Tiêu chí nhận diện ĐHNC và kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng ĐHNC” và “Mười đặc điểm của trường ĐHNC hiện đại”.

Trong đó, tác giả đã phân tích rất kỹ những đặc điểm của một trường ĐHNC, vai trò và sự cần thiết xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam [86; 87]. Nhận xét chung: - Các nghiên cứu nêu trên đã mang lại giá trị lớn về lý luận và thực tiễn như: + Xác định được hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về trường ĐHNC như khái niệm, sứ mệnh, đặc điểm. Đặc biệt, các nghiên cứu nhấn mạnh về vai trò của trường ĐHNC trong phát triển nền GD&ĐT chất lượng cao và đạt được mục tiêu tăng trưởng KT-XH của mỗi quốc gia. + Xây dựng các tiêu chí về trường ĐHNC và sự cần thiết hình thành trường ĐHNC ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

- Tuy nhiên, các nghiên cứu nêu trên cũng còn có một số hạn chế, đó là: + Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét các vấn đề về trường ĐHNC ở nước ngoài với bối cảnh khác nhau. + Việc nghiên cứu thực tiễn xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam gần như không có. Các tác phẩm mới chỉ dừng lại ở lý thuyết. Số lượng bài nghiên cứu về trường ĐHNC ở Việt Nam còn rất ít, thể hiện vấn đề xây dựng trường ĐHNC ở Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mực.

Nghiên cứu về đội ngũ trưởng bộ môn trong trường đại học định hướng nghiên cứu Nghiên cứu của nước ngoài tập trung vào ĐNTBM nhưng ở khía cạnh nhận diện về năng lực mà ĐNTBM cần phải có, như: Đại học Melbourne cho rằng chức vụ quản lý trong trường ĐH nói chung, TBM nói riêng đã cụ thể hóa bằng các tiêu chí năng lực bao gồm: trình độ, thuộc tính, kỹ năng và kiến thức. - Về trình độ: phải đạt trình độ SĐH phù hợp với kinh nghiệm liên quan; hoàn thành một bằng cấp hoặc chứng nhận có kinh nghiệm làm việc liên quan. 14 - Về các thuộc tính: được chia nhỏ để các hành vi cụ thể thực hiện các yêu cầu của từng vị trí như tính linh hoạt, tính sáng tạo, tính chuyên nghiệp, tính toàn vẹn, tính độc lập. - Về các kỹ năng: bao gồm các kỹ năng như đàm phán, viết, lãnh đạo, xây dựng đội nhóm, quản lý dự án và quản lý nói chung.

- Về kiến thức: hiểu biết thấu đáo về hoạt động giảng dạy, GDĐH, NCKH, có kiến thức, kỹ năng thực tế [179]. Một số nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra vấn đề nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐHNC, cụ thể: Nghiên cứu của Hattie & Marsh chỉ ra rằng với các CBQL chuyên môn (trong đó có ĐNTBM) trong trường ĐHNC, ngoài việc đánh giá họ dưới góc độ giảng dạy, tiêu chuẩn về nghiên cứu và gây ảnh hưởng tới đội ngũ phía dưới thông qua năng lực chuyên môn, năng lực định hướng của họ cũng là một trong những tiêu chuẩn vô cùng quan trọng trong công tác đánh giá CBQL chuyên môn của các trường. Bài báo “The relationship between research and teaching-a metaanalysis” đã giúp người đọc nhận diện về ĐNTBM trong trường ĐHNC trước hết phải có năng lực chuyên môn, đặc biệt năng lực nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho những thành viên còn lại trong bộ môn [141]. Bài báo khoa học của Steffensen, Rogers & Speakman với nhóm đối tượng là trung tâm, phòng thí nghiệm, labo, bộ môn trong trường ĐHNC chỉ ra tầm quan trọng của các CBQL chuyên môn đối với các đơn vị đó là vô cùng quan trọng.

Những CBQL chuyên môn này cần phải được đánh giá thường xuyên để có thể nhận diện và ĐT-BD kịp thời nhằm thực hiện được những nhiệm vụ của trường một cách hiệu quả. Năng lực chuyên môn được đánh giá trước hết ở năng lực NCKH, chỉ đạo tổ chức các hoạt động NCKH theo chuyên ngành [170]. Nghiên cứu của nhóm tác giả Ghonji trong bài báo “Analysis of the some effective teaching quality factors within faculty members of agricultural and natural resources colleges in Tehran University” đã tập trung vào xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng ĐNGV và CBQL chuyên môn theo đánh giá của hội đồng khoa học thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng… Những phân tích của nhóm tác giả thông qua hệ thống yếu tố ảnh hưởng đã chỉ ra năng lực chuyên môn, 15 trong đó có năng lực giảng dạy và đặc biệt năng lực NCKH là rất quan trọng, quyết định năng lực của TBM [137]. Nghiên cứu của nhóm tác giả Phiakoksong và các cộng sự tập trung làm rõ những tiêu chí về năng lực, phẩm chất cần thiết đối với đội ngũ CBQL chuyên môn trong trường ĐHNC trong bài báo khoa học “An Application of Structural Equation Modeling for Developing Good Teaching Characteristics Ontology, Informatics in Education”.

Bằng cách sử dụng phương pháp định lượng, nhóm tác giả đã làm rõ được sự ảnh hưởng của tính cách, phẩm chất cần thiết đối với đội ngũ CBQL chuyên môn trong trường ĐHNC. Từ đó, những khuyến nghị để phát triển ĐNTBM trong trường ĐHNC là tập trung phát triển các năng lực chuyên môn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh năng lực NCKH của TBM [164]. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về ĐNTBM trong trường ĐH, đặc biệt là trong các trường ĐHNC đã được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam, quan niệm về TBM là nhà quản lý, nhà lãnh đạo chuyên môn trong một trường ĐH nên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với chất lượng đào tạo và NCKH của nhà trường.

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu tập trung nhiều cho việc phân tích, tìm hiểu vai trò của ĐNTBM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ