CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Để phát triển nguồn nhân lực, nước Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và khuyến khích phát triển nhân tài và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực. Nhật Bản thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên. Nếu như ở nhiều nước phương Tây, chế độ này chủ yếu dựa vào năng lực và thành tích cá nhân, thì ở Nhật Bản, hầu như không có trường hợp cán bộ trẻ tuổi, ít tuổi nghề lại có chức vụ và tiền lương cao hơn người làm lâu năm.
Hàn Quốc chú trọng tới việc nâng cao trình độ sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, nâng cao tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong khu vực công; xây dựng hệ thống đánh giá và quản lý kiến thức, kỹ năng và công việc; xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin cho phát triển nguồn nhân lực; xây dựng và phát triển thị trường tri thức. Chính phủ Trung Quốc đang hết sức quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có trong nước, nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực này khi chuyển dần sang kinh tế tri thức. Như vậy, ở phương diện nghiên cứu lí luận và thực tiễn giáo dục, các nhà Xã hội học, đặc biệt là Giáo dục học ở nước ngoài đã có nhiều công lao to lớn trong việc nghiên cứu, hoàn chỉnh hệ thống lí luận về công tác quản lý xã hội nói chung trong đó có hệ thống lí luận về xây dựng và phát triển đội ngũ GV. Phát triển đội ngũ GV là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của công tác QLGD.
Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục thực tiễn đã quan tâm đến việc tìm ra các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên, từ đó họ đã đề xuất được nhiều giải pháp có hiệu quả và khả thi. Ngay sau khi nước nhà giành độc lập, Hồ Chủ Tịch đã đặc biệt quan 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tâm, chỉ đạo phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về GD là định hướng đúng đắn cho việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ giáo viên mới và CBQL giáo dục. Trong các công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục và những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục, đáng chú ý là các tác phẩm “Cơ sở khoa học quản lý” của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc; “Phương pháp luận khoa học giáo dục” của Phạm Minh Hạc; “Khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Trần Kiểm; “Quản lý giáo dục - một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Sĩ Thư.
Trên thực tế có nhiều công trình khoa học nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL trường học của nhiều tác giả. Một số luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục như đề tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Ý Yên tỉnh Nam Định đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học” của Phạm Mạnh Tuân, năm 2008; đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Hải Bằng, năm 2010; “Phát triển đội ngũ Giáo viên Trường Trung cấp Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”, của tác giả Trần Trang Nhung, năm 2009; các tác giả theo các đề tài này đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cũng như các giải pháp nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên nói chung với tư cách là nguồn nhân lực trong giáo dục là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và có những thành tựu quan trọng về vấn đề này.
Tuy nhiên, các đề tài nói trên đều mang tính đặc thù, đi sâu nghiên cứu, áp dụng vào thực tế ở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từng vùng, miền, từng địa phương. Cho đến nay, vẫn chưa có tác giả nào đề cập đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học một cách đầy đủ và có hệ thống. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, phát triển 1.
Quản lý Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Về nội dung, thuật ngữ quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau. Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt các mục đích của nhóm. Một số nhà khoa học đã đưa ra các quan niệm và định nghĩa về quản lý như: - Theo Omarốp: Quản lý là tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và dễ nhất”. - Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [24, tr. - Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho các tổ chức vận hành và đạt được các mục đích của tổ chức” [8, tr.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song nội hàm của các định nghĩa đều đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý là một hoạt động, trong đó có tác động của chủ thể quản lý đến khách thể bị quản lý và luôn luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. - Sự tác động có định hướng tới mục tiêu của tổ chức được chủ thể quản lý thực hiện phải có ý thức, hợp quy luật, nghĩa là trên cơ sở phải có triết lý và phù hợp với thực tiễn. Với những phân tích trên, tác giả nhận thấy:“Quản lý một tổ chức là tác động có chủ đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục đích của tổ chức”. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cũng khẳng định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra” [8, tr.
Phát triển Theo triết học duy vật biện chứng, thuật ngữ phát triển là biến đổi làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lí luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển, tiến lên mãi mãi. Theo từ điển Tiếng Việt, “phát triển” là lớn lên về mặt kích thước, độ rộng (số lượng) hay về mặt giá trị, tầm quan trọng (chất lượng).
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, phát triển là tăng cả về chất lượng và số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến, được hoàn thiện. Những đặc trưng cơ bản của phát triển được biểu hiện như: Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phát triển từ những thay đổi về số lượng được chuyển hóa thành những thay đổi về chất lượng; Phát triển là quá trình vận động không ngừng của sự vật và hiện tượng. Đội ngũ, đội ngũ giáo viên 1. Đội ngũ Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định” [31, tr.
Khái niệm đội ngũ có liên quan với khái niệm nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động, những người lao động có kỹ năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào một công việc nào đó trong cơ cấu lao động của xã hội. Đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó. Chính vì vậy, các đặc trưng về phát triển ĐN gắn liền với những đặc điểm phát triển tổ chức nói chung và đặc trưng của công tác CB nói riêng.
Đội ngũ giáo viên ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ năng lực và sức lực của họ cho giáo dục. Đội ngũ giáo viên là một nhóm giáo viên được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện chức năng giúp hiệu trưởng quản lý các hoạt động giáo dục ở các lớp học trong trường nhằm thực hiện mục tiêu và nguyên lý giáo dục.