Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý Nhà nước nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trong trường đại học kinh tế công lập ở Việt Nam Chương 3: Thực trạng quản lý Nhà nước nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trong trường đại học kinh tế công lập ở Việt Nam Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước nhằm phát triển đội ngũ giảng viên trong trường đại học kinh tế công lập ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu liên quan về phát triển đội ngũ giảng viên Các công trình nghiên cứu nước ngoài tiếp cận quản lý Nhà nước đối với NNL giáo dục ĐH theo hai hướng rõ ràng: học thuật và tác nghiệp. Các nghiên cứu theo hướng học thuật chủ yếu nghiên cứu về quản lý nguồn Nhà nước phát triển NNL đối với giáo dục nói chung, ĐH nói riêng; các nghiên cứu theo hướng tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý NNL đối với một đơn vị giáo dục cụ thể.
Nghiên cứu liên quan đến phát triển ĐNGV đóng vai trò là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Robert J.Marano là tác giả cuốn sách "What works in schools" (cái gì hiệu quả trong các trường ĐH), vai trò của GV trong nhà trường, là yếu tố ảnh hưởng đến thành tích học tập của người học, cung cấp các bước hành động cụ thể và khả thi thực hiện các chiến lược nâng cao chất lượng của người học và hiệu quả giáo dục công [116].Hall và Alisa, nhà quản lý giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng năng lực của GV và ông khẳng định năng lực GV là sức mạnh quan trọng nhất, và được xem như là chìa khoá của chất lượng và sự thành công trong giáo dục [114]. Nghiên cứu liên quan đến chất lượng giáo dục ĐH là một vấn đề được nhiều học giả nước ngoài quan tâm từ khá sớm. Các nghiên cứu về chất lượng giáo dục đi theo logic từ bản chất của khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục đến chất lượng giáo dục ĐH. Thực tế, các nghiên cứu về chất lượng giáo dục ĐH đưa ra những quan niệm khác nhau về chất lượng với nhiều góc độ tiếp cận.
Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 6 "Holley is the author of "A Teacher Quality Primer," a 2008 book on market-based reforms to improve teacher quality" ("Sách giáo khoa chất lượng GV") [107] một cuốn sách về cải cách dựa trên thị trường năm 2008 nhằm nâng cao chất lượng giáo viên. Holley cũng đã tiến hành nghiên cứu về chất lượng GV, hợp nhất trường học, công nghệ giáo dục và tài chính của trường như là một cộng sự nghiên cứu cao cấp tại Văn phòng Chính sách Giáo dục, và viện nghiên cứu chính sách giáo dục ngoài nhà nước đặt tại ĐH Arkansas. Ông đưa ra những vấn đề thực tiễn mới về chính sách công ở Mỹ. Rất nhiều tác giả cũng đã xuất bản cùng tên sách và những cuốn sách như vậy luôn là những sách bán chạy và được tái bản nhiều lần.
Lý do chính khiến những công trình nghiên cứu về chính sách công ở nước ngoài luôn thu hút đông đảo độc giả là lượng SV theo học kinh tế học hoặc tài chính, quản lý nhà nước… rất quan tâm đến môn học này. Chính vì thế những công trình nghiên cứu về chính sách công ngoài nước, đặc biệt ở Mỹ, Anh, mang tính học thuật cao (kể cả sách được xuất bản hay các bài viết báo, tạp chí). Trong các nghiên cứu đó, khi đưa vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề giáo dục công lập và chính sách phát triển cho giáo dục công lập. Tuy nhiên, việc phân tích như vậy chỉ mang tính minh hoạ cho lý thuyết về chính sách công.
Brubacher trong nghiên cứu On the philosophy of higher education, San Francisco Jossey-Bass (về triết lý của giáo dục ĐH) [104] đã khẳng định: "Chất lượng giáo dục ĐH được thể hiện ở việc đạt được những trách nhiệm xã hội mà giáo dục ĐH phải gánh vác. ĐH với ý nghĩa là trung tâm tri thức, trung tâm chuyển giao tri thức thì chất lượng giáo dục ĐH chính là kết quả sáng tạo tri thức, chuyển giao tri thức, xây dựng và phát triển NNL của quốc gia. Chất lượng giáo dục ĐH được hợp thành từ chất lượng của các trường ĐH. Không thể có một nền giáo dục có chất lượng nếu chất lượng của đa số trường ĐH ở mức thấp kém, không hoàn thành được sứ mệnh mà xã hội giao Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 7 phó cho nó".
Ở một góc độ toàn diện và hệ thống, các tác giả Harvey và Green đã hệ thống hoá các quan niệm về chất lượng giáo dục ĐH. Theo các tác giả, trên thế giới có sáu quan niệm về chất lượng giáo dục ĐH: chất lượng là sự vượt trội; chất lượng là sự hoàn hảo nhất quán; chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu; chất lượng được đánh giá bằng chi phí tài chính; chất lượng được phản ánh ở giá trị chuyển đổi, tạo ra giá trị gia tăng. Giá trị gia tăng là một thước đo về chất lượng về việc trải nghiệm giáo dục thúc đẩy phát triển kiến thức, năng lực và kỹ năng của SV đến mức độ nào. Tuy nhiên, bản thân quan niệm chất lượng là sự vượt trội hay sự hoàn hảo nhất quán mang ý nghĩa lý thuyết hơn là tính ứng dụng vì thiếu hệ thống đo lường.
Việc đánh giá chất lượng giáo dục ĐH phù hợp với mục tiêu cần phải làm rõ mục tiêu của người học, nhà trường, xã hội hay tất cả các chủ thể. Chi phí tài chính có thể là một thước đo nhưng việc so sánh hiệu quả tài chính với chất lượng giáo dục ĐH không phải là một vấn đề đơn giản. Chất lượng tạo ra giá trị gia tăng nhưng cơ sở nào để đánh giá giá trị gia tăng đó đem đến những giá trị thực tiễn cho người học, nhà nước và cộng đồng xã hội cũng là một vấn đề cần tiếp tục được làm rõ. Báo cáo nghiên cứu cũng đề cập đến cải cách giáo dục quốc gia Nhật Bản [62] với các nội dung: Chẩn đoán của Hội đồng cải cách giáo dục với các vấn đề giáo dục, kiến nghị và kết luận của Hội đồng.
Hội đồng cải cách giáo dục khẳng định một trong tám nhiệm vụ chủ yếu của cải cách giáo dục là "Nâng cao chất lượng nguồn GV". Kết thúc báo cáo nghiên cứu, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Mỹ W. Bennett đã liên hệ "Gợi mở cho giáo dục Mỹ", với đề xuất 12 nguyên tắc, trong đó có 2 nguyên tắc: + Môi trường nhà trường và lớp học phải phản ảnh mục đích cần đạt được. + Một trường học tốt cần có GV hợp thức, có tinh thần hiến thân.
Nếu một xã hội có thể trả cho GV thù lao hợp lý, trong xã hội GV được kính trọng, môi trường dạy học trật tự nghiêm chỉnh, quan hệ và trách nhiệm bình đẳng Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 8 và có cơ hội để họ bổ túc nghiệp vụ, thì xã hội đó không những có thể thu hút mà còn có thể giữ chân được rất nhiều GV có năng lực. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy không phải chỉ thông qua Học viện giáo dục để đào tạo nguồn GV, có nhiều cách thức khác nhau để họ nắm tri thức cho chuyên ngành của mình và có năng lực truyền thụ tri thức cho học sinh. Trong nhà trường ở Nhật Bản, mỗi lớp khi mở chương trình đều có trên 5 người xin làm GV điều đó thể hiện cần có hệ thống chính sách tạo động lực thu hút giáo viên cho nhà trường. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đào tạo NNL khoa học-kỹ thuật ở các nước phát triển thể hiện quan điểm: + Chất lượng NNL là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế; ĐNGV là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo NNL của mỗi quốc gia.
Trần Khánh Đức (2010) [42], Giáo dục và phát triển NNL trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. Những nội dung trình bày trong cuốn sách phản ánh những kết quả nghiên cứu, giảng dạy trong nhiều năm của PGS.Trần Khánh Đức trong phạm vi một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục, quản lý giáo dục và phát triển NNL. Cuốn sách được trình bày với các nội dung ở các chương có liên hệ chặt chẽ với nhau đề cập những vấn đề rất rộng lớn, phức tạp và luôn phát triển cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ và đời sống xã hội hiện đại. Những vấn đề về khoa học giáo dục và phát triển NNL được quan tâm, đầu tư nghiên cứu sâu sắc trên mọi bình diện theo hướng tiếp cận hệ thống, phức hợp, liên ngành và xuyên ngành.
Đặc biệt, trong chương 9 của cuốn sách trình bày về nội dung: NNL và quản lý phát triển NNL đã đề cập khá sát với nội dung đề tài luận án đang nghiên cứu. Nguyễn Duy Hùng (đồng chủ biên) (2012) [78], Phát triển NNL đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách gồm tập hợp Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 9 các bài tham luận tại Hội thảo Phát triển NNL đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế do Tạp chí Cộng sản và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật đồng tổ chức vào ngày 24-8-2012. Cuốn sách được chia thành 3 phần.
Phần 1, nhóm tác giả đề cập những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triển NNL; và những vấn đề lý luận chung như: cách tiếp cận nghiên cứu NNL, từ lý luận đến thực tiễn phát triển NNL… Phần 2 của cuốn sách tập trung giới thiệu những kinh nghiệm phát triển NNL của một số ngành trong nước (như dầu khí, ngân hàng…) và của một số nước, vùng lãnh thổ trên thế giới.