Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển đội ng giảng sư Chương 2. Cơ sở lý luận về phát triển đội ng giảng sư ở trường Trung cấp Phật học hiện nay theo hướng chuẩn hóa Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực tiễn về phát triển đội ng giảng sư ở các trường Trung cấp Phật học hiện nay theo hướng chuẩn hóa Chương 4.
Giải pháp phát triển đội ng giảng sư ở các trường Trung cấp Phật học hiện nay theo hướng chuẩn hóa. 10 Ch ng TỔNG QUAN CÁC C NG TRÌNH NGHI N CỨU CÓ LI N QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG SƯ. Nh ng c ng tr nh nghiên cứu về đ i ng giáo viên, giảng viên giảng s 1. h ng c ng tr nh nghiên cứu về đội ngũ giáo viên, giảng viên Đội ng giáo viên nói chung và giảng viên nói riêng là thành tố căn cốt làm nên thành công của hệ thống giáo dục.
Chính vì vậy, các nghiên cứu về đội ng giáo viên, giảng viên nói chung thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn với nhiều chủ đề đa ạng và tiếp cận đa chiều. Nhìn chung, hi đề cập đến phát triển đội ng giáo viên, giảng viên ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lí phát triển nguồn nhân lực, các nghiên cứu đều dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng đội ng , với việc phát triển của các phương tiện công nghệ dạy học hiện đại, nội dung kiến thức các ngành khoa học ngày càng phong phú… ẫn đến yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nội dung, phương pháp giáo ục, vai trò của đội ng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục. không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hóa” [43].
Do đó, xây ựng và phát triển đội ng giảng viên là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta. Theo tổng kết của UNESCO, trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người giáo viên đã thay đổi theo các phương hướng sau đây: (a) Đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; (b) Chuyển từ truyền thụ kiến thức sang điều hành hoạt động học tập của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; (c) Cá nhân hóa việc học tập, thay đổi tính chất quan hệ thầy trò; (d) Yêu cầu sử dụng những phương tiện dạy học hiện đại, o đó yêu cầu trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết; (e) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc mối 11 quan hệ giữa giáo viên với nhau; (g) Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (h) Yêu cầu giáo viên tham gia các hoạt động rộng rãi ngoài nhà trường; (i) Giảm bớt quyền lực trong quan hệ với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh [dẫn theo 23]. Như vậy, có thể thấy người giáo viên hiện đại không chỉ dừng ở vai trò nhà giáo dục, người truyền dạy kiến thức. Giáo viên còn là người tạo ra và phát triển học liệu.
Một vai trò khác của giáo viên c ng được các nghiên cứu nhắc tới là vai trò nhà nghiên cứu. Người giáo viên cần biết vận dụng các quy tắc của nghiên cứu khoa học để phát triển nghề nghiệp của mình. Quan niệm người giáo viên phải là nhà nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi ở Anh từ những năm 1980, sau đó nhanh chóng trở nên phổ biến ở Mỹ. Các lớp học được phép trở thành môi trường nơi giáo viên thử nghiệm những giả thuyết khoa học của mình, thử nghiệm hiệu quả của phương pháp ạy học, và đưa ra những kết luận nghiên cứu liên quan đến hoạt động dạy học.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đều coi đội ng giảng viên, phát triển đội ng giảng viên là một trong những điều kiện cơ ản đảm bảo chất lượng và sự phát triển của nền giáo dục, quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của đội ng giảng viên ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn Nghiên cứu về chất lượng đội ng giáo viên nói chung, giảng viên nói riêng c ng có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Từ cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về phát triển đội ng giáo viên theo xu hướng chuẩn nghề nghiệp 12 được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều nước đã xây ựng chuẩn cho nền giáo dục của mình, gồm: Chuẩn chất lượng, chuẩn trường, chuẩn cán bộ quản lý, chuẩn giáo viên. Bên cạnh đó, đào tạo theo năng lực thực hiện c ng đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới.
Người sử dụng lao động không cần quan tâm đến người lao động của mình được đào tạo ở đâu với những nội dung gì và trong bao lâu mà chỉ cần người lao động có đủ năng lực để hoàn thành được những công việc của nghề tại vị trí lao động, đạt chuẩn chất lượng sản xuất đòi hỏi. Trước những yêu cầu như vậy, buộc các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu phải quan tâm nhiều hơn trong công tác đào tạo giáo viên. Gần đây một số nhà sư phạm người Đức như Hortsch Hanno (2003), Didaktikder Berufsbidung, Hochschulskripten Universitaet Dresden; Herman Sate ag (2004), Michael Steig (2006)… đã có những nghiên cứu cơ ản về vấn đề này. Các tác giả cho rằng năng lực phải là mục tiêu trong công tác đào tạo giáo viên, bởi chính người giáo viên là người đặt nền móng, giúp người học hình thành năng lực thực hiện.
Người học là bản sao của người dạy không chỉ ở phẩm chất, nhân văn mà còn là ản sao về sự thực hiện hoạt động nghề nghiệp (năng lực thực hiện). Muốn nâng cao đầu ra của chương trình đào tạo, nâng cao năng lực người học thì cần phát triển năng lực của người giáo viên. Từ đó, các tác giả đã xây ựng những mô hình phát triển năng lực đội ng giáo viên hướng tới đầu ra của chương trình đào tạo. Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện đại của tổ chức UNESCO chỉ rõ: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức” (điểm 18) và đặc biệt là chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất” (điểm 16) [dẫn theo 23, tr.
Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu Âu), chất lượng nhà giáo gồm các nội dung sau: (1) Kiến thức 13 phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “ ho iến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư uy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; (5) Có năng lực quản lí, kể cả trách nhiệm quản lí trong và ngoài lớp [dẫn theo 21, tr11]. Tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa đề cập đến phẩm chất, năng lực người thầy, nghề thầy trong bối cảnh phát triển mới; con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [8]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Sự thành công trong dạy học, giáo dục học sinh đòi hỏi thầy giáo phải có thế giới quan tiên tiến, phẩm chất đạo đức cao quý, trình độ kỹ năng, ỹ xảo nghề nghiệp cao. Tri thức, kỹ năng, ỹ xảo là chất liệu để tạo thành năng lực.
Ông cho rằng năng lực sư phạm là năng lực chung, bao gồm các thành tố cơ ản là những năng lực riêng được chia thành các nhóm: a) Các năng lực thuộc về nhân cách như: năng lực kiềm chế, tự chủ, năng lực điều khiển được tâm lý; ) Các năng lực dạy học: năng lực khoa học, năng lực ngôn ngữ; c) Các năng lực tổ chức giao tiếp: óc quan sát sư phạm, sự héo léo sư phạm, năng lực phân phối sự chú ý, năng lực tổ chức, năng lực giao tiếp. Các năng lực này đều là năng lực chung của giáo viên, còn những năng lực chuyên biệt, gắn liền với giảng dạy từng bộ môn khác nhau [29]. Tác giả Trần á Hoành, Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng đều thống nhất cấu trúc nhân cách người giáo viên gồm phẩm chất và năng lực, gọi là đức và tài. Phẩm chất của người giáo viên gồm 3 thành tố: a) Thế giới quan; b) lòng yêu trẻ; c) lòng yêu nghề.
Năng lực bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với một số kỹ năng tương ứng. Theo tác giả Trần Bá Hoành: 14 năng lực người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học/giáo dục với chất lượng cao. Kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện. Kỹ năng đạt mức thành thạo thì thành ĩ xảo; năng lực đạt mức cao được gọi là tinh thông nghề nghiệp; lao động sư phạm mang tính sáng tạo.
Giáo viên phải biết vận dụng, lựa chọn phối hợp các kỹ năng thích hợp để hoàn thành nhiệm vụ dạy học/giáo dục. Năng lực của giáo viên có 4 loại: (1) năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học/giáo dục, thiết kế hoạch động dạy học/giáo dục; (2) năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học/giáo dục; (3) năng lực giám sát, đánh giá ết quả các hoạt động dạy học/giáo dục; (4) năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn dạy học/giáo dục [32]. Nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ng nhà giáo Việt Nam đã đề cập đến những khía cạnh cần được đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ng giảng viên như: (-) Khả năng sử dụng ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; (-) Khả năng gắn kết giảng dạy, NCKH với thực tiễn lao động sản xuất; (-) Khả năng iết và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy; (-) Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa, xã hội.