Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Nghiên cứu về CVHT diễn ra rất sớm từ đầu những năm 1960 khi các nghiên cứu của Chickering (1969), Erikson (1963), Sanford (1967) về lí thuyết tư vấn được công bố, tuy nhiên, những nghiên cứu về tư vấn học tập chủ yếu diễn ra ở các nước nói tiếng Anh, chủ yếu là ở Mỹ, nơi tư vấn học tập ra đời và tư vấn là bắt buộc đối với các trường ĐH và cao đẳng. Nội dung chủ yếu đi sâu vào các vấn đề: lịch sử tư vấn học tập; cơ sở lí thuyết cho hoạt động tư vấn; mô hình cấu trúc hoạt động của tư vấn học tập; các phương pháp tiếp cận tư vấn; các KN tư vấn; các đối tượng SV tư vấn; các tài nguyên của tư vấn học tập. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ CVHT và phát triển đội ngũ CVHT theo tiếp cận NL ở trường ĐH trên thế giới ít được quan tâm.
Chưa có công trình nghiên cứu hay chuyên khảo nào đi sâu về vấn đề đội ngũ CVHT, phát triển đội ngũ CVHT, và phát triển đội ngũ CVHT trường ĐH SPKT theo tiếp cận NL, tuy nhiên, một cách gián tiếp các học giả trên thế giới có những nghiên cứu liên quan và đã đề cập tới các vấn đề này, như sau: 1. Nghiên cứu về đội ngũ cố vấn học tập 1. Nghiên cứu về mô hình cấu trúc tổ chức của đội ngũ cố vấn học tập Celeste F. Pardee [69] khi nghiên cứu về mô hình cấu trúc tổ chức CVHT đã cho rằng: Cơ cấu tổ chức là khuôn khổ để cung cấp dịch vụ tư vấn cho SV.
Như vậy, đây là một trong những khối xây dựng quan trọng cho một chương trình tư vấn hiệu quả, bất kể chương trình được xác định ở cấp khoa, trường, hoặc tổ chức…Về việc đánh giá hiệu quả của mô hình cấu trúc tổ chức CVHT, theo Celeste F. Pardee [69]: rất khó để đánh giá hiệu quả của cấu trúc tổ chức, hoặc sự hài lòng với một mô hình cụ thể, khi nó được liên kết chặt chẽ với các thành phần khác của một chương trình tư vấn.WR [81] trong cuốn Organizational structure for academic counseling: Models and implications, sau khi nghiên cứu hoạt động của CVHT trong các trường ĐH, và chủ yếu ở Mỹ, đã đưa ra kết luận: có ba dạng mô hình cấu trúc tổ chức CVHT được áp dụng trong các trường ĐH, như sau: Mô hình tập trung; Mô hình phi tập trung (phân cấp); Mô hình chia sẻ. Từ ba cấu trúc cơ bản của mô hình CVHT trên, Habley [81] tiếp tục phân phối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thành bảy mô hình là cấu trúc cụ thể của CVHT, và được Celeste F. Pardee [68] mô tả trong cuốn Academic Counseling: A Comprehensive Handbook, phần: Organizational model for academic advising, gồm 7 mô hình sau: (1) Mô hình tập trung (tự chứa); (2) Mô hình bổ sung; (3) Mô hình split (phân chia); (4) Mô hình dual (kép); (5) Mô hình total intake (Tổng tuyển sinh); (6) Mô hình khoa chỉ; (7) Mô hình vệ tinh.
Nghiên cứu của Barbara Oertel [64] cho rằng: Trong 7 mô hình CVHT, mỗi mô hình cung cấp những lợi thế khác biệt và nhược điểm. Bốn mô hình được sử dụng nhiều nhất là: Mô hình bổ sung, mô hình split (phân chia), mô hình khoa chỉ, mô hình tự chứa. Habley và Morales [84] sau khi phân tích xếp hạng của CVHT về bảy mô hình tổ chức liên quan đến mười một biến chương trình, họ đã kết luận rằng: “Bất kì mô hình tổ chức nào cũng có thể có hiệu quả… Yếu tố quyết định sự thành công của bất kì mô hình nào là sự phù hợp giữa mô hình và tổ chức, GV, SV và các biến khác…”. Nghiên cứu của Celeste F.
Pardee [69] cho thấy mô hình phi tập trung khoa chỉ - nơi mà tất cả các SV được chỉ định cho một cố vấn bộ phận, thường là các giáo sư từ các ngành học của SV, là mô hình phổ biến nhất được sử dụng tới 28% ở các tổ chức. Trong cuộc khảo sát năm 2011 do American College thực hiện thử nghiệm và Nacada (Carlstrom & Miller) [67] cho thấy việc sử dụng các mô hình phi tập trung trên là suy giảm từ 25% so với khảo sát của Habley [83] xuống còn 17%. Việc sử dụng mô hình tập trung tăng đáng kể từ 14% (theo khảo sát Habley) [83] tăng lên 29% năm 2011. Như vậy, xu hướng phát triển theo các mô hình đã có sự dịch chuyển từ phi tập trung sang tập trung.
Theo Carlstrom & Miller [67] điều này chứng tỏ tính chất chuyên nghiệp ngày càng phát triển của tư vấn học tập. Tác giả Trần Minh Đức [13] Báo cáo đề tài: Xây dựng mô hình hoạt động của CVHT trong đào tạo TC ở trường ĐH Việt Nam đã chỉ rõ: chưa có một trường ĐH, cao đẳng nào ở Việt Nam xây dựng được một mô hình CVHT hoàn thiện. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức hoạt động CVHT tại các trường ĐH tại Việt Nam, tác giả đã chỉ ra: có sáu mô hình CVHT đang được sử dụng tại các trường ĐH ở Việt Nam, và nó tương đồng với các mô hình CVHT đang được sử dụng tại các trường ĐH ở Mỹ. Trên cơ sở đó, tác giả Trần Thị Minh Đức đã xây dựng và đề xuất mô hình CVHT cho các trường ĐH tại Việt Nam hiện nay mà tác giả cho là phù hợp nhất.
Tác giả đã đưa ra mô hình CVHT mang tính chuyên nghiệp, tuy nhiên hiện nay, việc đào tạo một đội ngũ chuyên nghiệp đúng nghĩa rất khó khăn, tốn kém. Nghiên cứu về mô hình CVHT, tác giả Nguyễn Văn Vân [60] chỉ rõ: Trong việc các đơn vị áp dụng các mô hình CVHT tại Việt Nam, vẫn chưa có sự phân biệt thật rõ ràng vai trò của từng cá nhân, bộ phận, trong đó: Vai trò của CVHT vẫn còn chồng chéo với giáo viên chủ nhiệm, công việc của CVHT nhưng vẫn do phòng đào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tạo đảm nhận. Mối liên hệ giữa CVHT và các đồng nghiệp phòng ban còn yếu, sự phối hợp giữa CVHT với các phòng ban liên quan, hoặc giữa các CVHT chưa đặt ra với một lịch trình. Tác giả yêu cầu phải có một mô hình CVHT chung và chuyên nghiệp mà theo các tác giả được cho là phù hợp nhất.
Tuy nhiên, hạn chế là thiếu một đội ngũ CVHT chuyên nghiệp, thiếu một trung tâm tư vấn độc lập nhằm hoạch định chiến lược. Mô hình cấu trúc tổ chức tư vấn là môi trường hoạt động của đội ngũ CVHT. Các nghiên cứu đã đi sâu và chỉ ra các mô hình cấu trúc hoạt động hiệu quả và phù hợp với mỗi loại hình SV và nhà trường, ưu và khuyết điểm của mỗi mô hình, sự phát triển của các mô hình trong thực tiễn thực hành tư vấn. Nghiên cứu về phương pháp tiếp cận hoạt động tư vấn của đội ngũ cố vấn học tập Theo nghiên cứu của Drake và cộng sự [77] Có chín cách tiếp cận tư vấn học tập được cộng đồng NACADA sử dụng.
Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu cho thấy các phương pháp tiếp cận tư vấn sau đây của đội ngũ CVHT được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là: + Tư vấn qui định (tư vấn kê đơn) Tư vấn theo qui định là phương pháp đầu tiên đã được thực hiện rộng rãi bởi các CVHT. Trong mô hình tư vấn theo qui định, các CVHT chủ yếu phục vụ trong vai trò của nhà cung cấp thông tin Crookston [75]. CVHT phổ biến thông tin liên quan đến chương trình giảng dạy, cũng như lập lịch trình và mô tả khóa học cho SV. Mục đích chính trong việc cung cấp tư vấn theo qui định là để đảm bảo rằng SV lựa chọn và hoàn thành các khóa học phù hợp cho bằng cấp của họ Crookston [74].
Quan hệ giữa cố vấn và SV trong tư vấn theo qui định chủ yếu được đặc trưng là phân cấp, và luồng thông tin là một chiều trong đó các cố vấn cung cấp thông tin cho SV; CVHT là nhà cung cấp thông tin tích cực, trong khi SV là người tiếp nhận thông tin thụ động trong mối quan hệ tư vấn Lowenstein [90], [91]. Tư vấn theo qui định là một cách tiếp cận có thẩm quyền để cung cấp cho SV hướng dẫn, trong đó, các SV chịu trách nhiệm làm theo và thực hiện lời khuyên được đưa ra cho họ bởi cố vấn của họ (Crookston, Hagen & Jordan, Smith & Allen), [75], [85], [107]. Mối quan hệ cố vấn - SV trong tư vấn kê đơn tương tự như mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân. SV đến gặp một cố vấn khi có những thách thức và lo ngại, và các cố vấn cung cấp cho SV một đơn thuốc tư vấn (Lowenstein) [91] để giải quyết những thách thức và mối quan tâm đó.
Hạn chế của tư vấn kê đơn như Lowenstein [91] thấy rằng những người thực hành tư vấn theo toa thuần túy có thể bị kiệt sức nghề nghiệp hoặc có thể không được đào tạo và phát triển chuyên nghiệp trong tư vấn học thuật. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 + Tư vấn phát triển Tư vấn phát triển ra đời vào đầu những năm 1970 khi Crookston [74] xuất bản bài viết của mình về tư vấn học thuật phát triển đã tạo ra một kỉ nguyên mới về tư vấn học thuật bắt đầu (White) [109] Tư vấn phát triển là một trong những cách tiếp cận cơ bản và toàn diện nhất để tư vấn học thuật (trang 5). Theo Smith và Allen [107] tư vấn phát triển là một quá trình lấy SV làm trung tâm: Thừa nhận tính cá nhân của SV; giúp họ tích hợp các mục tiêu cuộc sống, sự nghiệp và GD; kết nối các khía cạnh ngoại khóa và ngoại khóa của kinh nghiệm GD của họ; và cung cấp cơ sở cho họ cơ hội thực hành các KN ra quyết định và giải quyết vấn đề. Mô hình tư vấn phát triển đã đạt được vị thế nhất thời và trở thành một mô hình thống trị trong cộng đồng tư vấn học thuật (Lowenstein) [91].
Gordon và cộng sự [108] nhấn mạnh rằng tư vấn phát triển nhằm mục đích nuôi dưỡng mối quan hệ hợp tác và liên tục giữa cố vấn và SV. Tư vấn phát triển thường được xem là một cách tiếp cận ưu việt hơn so với tư vấn theo quy định. Tuy nhiên, Hemwall và Trạchte [86] chỉ ra hạn chế của phương pháp tư vấn phát triển tập là trung vào sự tăng trưởng và phát triển cá nhân của SV và bỏ qua việc học tập của SV.