Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Các quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa chiến lược về đổi mới quản lý giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giáo dục, trong đó có đội ngũ CBQL giáo dục được thể hiện tại các Văn kiện lãnh đạo của Đảng và các Chính sách quản lý của Nhà nước ta như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã quyết định “Đổi mới công tác quản lý giáo dục” và “Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ sắp xếp, chấn chỉnh và nâng cao nǎng lực của bộ máy quản lý giáo dục - đào tạo” [28]; Chiến lược phát triển KT-XH 2011 - 2020 của Đảng nhấn mạnh quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [7]; Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 chỉ rõ các giải pháp, trong đó coi “đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá” và “phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là giải pháp then chốt [7]. Đặc biệt, Nghị quyết số 29/NQ-TW, ngày 04/11/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề cập đến một giải pháp quan trọng để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [29].
Liên quan đến quản lý đội ngũ CBQL nhà trường và nhân viên ngành giáo dục phải kể đến một số công trình tiêu biểu của Phạm Minh Hạc [12], 9 Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân [26], Nguyễn Tiến Hùng [19]. đã tập trung nghiên cứu sâu về yếu tố con người, khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của yếu tố con người và nhấn mạnh tiềm năng con người là vô tận, nếu được khai thác, phát huy đúng cách sẽ trở thành nội lực vô cùng lớn để phát triển KT-XH. Các tác giả đã phân tích và chỉ ra những điểm hạn chế căn bản trong chính sách quản lý, phát triển đội ngũ ở Việt Nam hiện nay và nhấn mạnh: quản lý đội ngũ CBQL và nhân viên ngành giáo dục phải thực hiện trên cả 03 mặt: Xây dựng - Sử dụng - Phát triển đội ngũ. Tác giả Bùi Minh Hiền cho rằng, xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL GD cần phải quy tụ vào ba vấn đề chính: số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL, tác giả đã đề xuất bốn giải pháp phát triển đội ngũ CBQL GD: Mọi cấp QLGD đều xây dựng được quy hoạch CBQL GD cho đơn vị và gắn liền với quy hoạch này là các công việc cần triển khai để đào tạo, bồi dưỡng CBQL GD theo quy hoạch; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đối với CBQL GD các cấp; có chính sách hỗ trợ tinh thần, vật chất thỏa đáng với CBQL GD; tổ chức lại hệ thống trường, khoa đào tạo CBQL GD [16]. Từ những cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học như Phạm Minh Hạc, Vũ Ngọc Hải, Phan Văn Kha, Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Nguyễn thị Mỹ Lộc, Trần Văn Độ. trong các công trình nghiên cứu đã bàn về công tác QLGD và những vấn đề có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL GD. Các tác giả đề cập đến vấn đề xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam đều chú trọng đến các nội dung, như: Thiết lập quy hoạch phát triển đội ngũ; Bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ; Bồi dưỡng đội ngũ; Đánh giá hoạt động của đội ngũ; tạo môi trường cho sự phát triển đội ngũ (trong đó có môi trường pháp lý, môi trường làm việc và đặc biệt là thiết lập và thực thi các chính sách đãi ngộ để tạo động lực cho đội ngũ đó phát triển).
10 Thời gian gần đây, đã có một số bài viết, đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL tại các trường phổ thông ở một số địa phương, như: Nguyễn Xuân Tế (2014) với bài viết “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”[37]; Phạm Ngọc Hải (2014) với luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông các tỉnh đông nam bộ trong bối cảnh đổi mới giáo dục”[14]; Lê Thị Hồng Anh (2015) với luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2020”[1]; Vũ Thị Thùy Nhung (2017) với luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang”[31]. Ngoài ra, còn có một số đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về công tác phát triển đội ngũ CBQL trường MN, như: Trần Thị Thúy Phương (2016) với luận án tiến sĩ “Phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường mầm non khu vực Bắc trung bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non”[32]; Hoàng Giang Nam (2017) với luận văn thạc sĩ “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non huyện Yên lập, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”[24]. Nhìn chung, các nghiên cứu này trong một chừng mực nhất định đã tập trung làm rõ một số nội dung về xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ CBQL trường học, mang tính đặc thù của từng cấp học, từng địa phương. Mặc dù, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc phát triển đội ngũ CBQL trường học nói chung và CBQL trường MN nói riêng, tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu việc phát triển đội ngũ CBQL trường MN ở các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, trong đó có huyện Mường Lát.
Do đó, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ CBQL trường mầm non huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển GDMN, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ MN ở địa phương trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Phát triển Theo từ điển Tiếng Việt, phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp [39]. Như vậy, phát triển làm tăng cả về chất lượng và số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến, được hoàn thiện.
Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ. Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng và con người trong xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên. Theo tác giả Đặng Bá Lãm, “Phát triển là một quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái mới ra đời.
Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao. Còn cái cao là cái thấp đã phát triển” [21]. Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất, phát triển là biến đổi hoặc là hoạt động làm cho biến đổi một sự vật, hiện tượng nào đó từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, trong đó thể hiện sự vận động của sự vật, hiện tượng theo hướng thay đổi về lượng để hoàn thiện hơn về chất. Cán bộ quản lý trường mầm non Theo từ điển Tiếng Việt, CBQL là: “Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”.
Trong cuốn “Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện đại hội IX của Đảng” [25], khái niệm “cán bộ quản lý” và “cán bộ lãnh đạo” được lý giải như sau: “Cán bộ lãnh đạo là chỉ những người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, đơn vị, phòng trào nào đó do bầu cử hoặc chỉ định”. 12 “Cán bộ quản lý là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng về quản lý; là người điều hành, hướng dẫn, và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo”. Từ cách lý giải khái niệm CBQL trong văn kiện của Đảng cho thấy các đặc trưng để nhận diện CBQL là hoạt động nghề nghiệp của người đó hoàn toàn hay chủ yếu gắn với chức năng cơ bản của quản lý. Như vậy, có thể hiểu: Cán bộ quản lý là khái niệm dùng để chỉ những người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng quản lý trong một tổ chức nhằm điều hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo tổ chức đó.
Người đứng đầu, phụ trách một tổ chức, đơn vị, phong trào nào đó thì đương nhiên là cán bộ lãnh đạo của tổ chức, đơn vị đó; nhưng xét trong hệ thống lớn hơn (chứa đựng các tổ chức, đơn vị đang xem xét) thì họ chỉ là người quản lý.