Phần mở đầu: Nêu khái quát: Lý do chọn đề tài, mục đích, giả thuyết khoa học, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phương pháp, phạm vi nghiên cứu; cấu trúc của luận văn và những đóng góp. Phần nội dung: Gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các trường trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng 7 sản Hồ Chí Minh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Phần Kết luận và Khuyến nghị: 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Khái lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Xu thế hội nhập và giao lưu văn hóa trong thời đại ngày nay đã đặt ra những yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực từ các cơ sở đào tạo để phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ Đoàn với sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo, trong những năm qua có một số công trình nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung, tiêu biểu như: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước” của Nguyễn Phú Trọng (2001); “Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành CNH- HĐH” của Vũ Huy Chương” (2002); “Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên” của Văn Tùng (2010) “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh những chặn đường phát triển” của Vũ Quang Hiển (2014). Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục: “Quản lý hoạt động phong trào Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của các trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng” Đại học Sư phạm Đà Nẵng của tác giả Bùi Việt Phú - năm 2019. Luận văn thạc sỹ Quản lý giáo dục: “Đổi mới hoạt động Đoàn Thanh niên Trường Đại học Tây Bắc trong bối cảnh đào tạo tín chỉ” Đại học Tây 9 Bắc, của tác giả Cầm Thị Phước - năm 2015.
Nghiên cứu về công tác của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được thực hiện ở các cấp độ, các lĩnh vực, có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như: Bùi Văn Cường về “Những biện pháp nâng cao chất lượng cán bộ Đoàn trong trường học giai đoạn hiện nay” Ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn, Hà Nội - 2016. Trung ương Đoàn Khóa XI đã biên soạn “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội, Đội, giai đoạn 2018 -2022” ban hành kèm theo Quyết định số 130 QĐ/TWĐTN-BTC ngày 25/10/2018 của Ban Bí Thư TW Đoàn có nêu: “Hiện nay, khoa học, công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là công nghệ thông tin truyền thông và cuộc cách mạng 4.0; đất nước đang hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới; thanh niên có sự phân hóa và đa dạng về khu vực và đối tượng; trình độ học vấn, tư tưởng chính trị, hiểu biết xã hội và nhu cầu của thanh thiếu thi ngày càng cao, rất đa dạng và phong phú đang đặt ra yêu cầu bức thiết phải đổi mới đối với tổ chức Đoàn, Hội, Đội và cán bộ Đoàn các cấp trong công tác tập hợp, đoàn kết, giáo dục, phát huy và đồng hành với thanh niên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở. Do đặc thù về sự luân chuyển nhanh của đội ngũ cán bộ Đoàn các cấp nên công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ Đoàn cần phải thường xuyên để bổ sung kịp thời đội ngũ cán bộ và phải được đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương thức để đáp ứng yêu cầu đổi mới”. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để xây dựng và phát triển tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh không ngừng lớn mạnh.
Đoàn Thanh niên đã sửa đổi và ban hành Điều lệ Đoàn cũng như quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định rất chặt chẽ nhằm xây dựng và phát triển tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ngày càng vững 10 mạnh trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Các công trình đã nghiên cứu về phát triển cán bộ Đoàn trên các nội dung, số lượng, chất lượng, cơ cấu. Đồng thời đã đi sâu vào công tác quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và các chế độ chính sách dành cho cán bộ Đoàn ở trường học. Bên cạnh đó, các công trình cũng đã chỉ ra những thuận lợi và những khó khăn trong xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn ở các trường THPT.
Trên thực tế, công tác Đoàn Thanh Niên ở các trường THPT là một tổ chức đang hoạt động với nhiều phong trào rất phong phú và đa dạng, đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp đổi mới Giáo dục - Đào tạo của nước ta hiện nay. Cụ thể ở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định chưa có một nghiên cứu nào về đề tài phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ở các trường THPT. Vì vậy vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn ở các trường THPT nói chung, trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nói riêng cho đến nay vẫn là một trong những vấn đề cấp thiết, cần được đầu tư nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu trên và tiếp tục làm rõ hơn về lý luận phát triển cán bộ Đoàn ở trường trung học phổ thông và đánh giá thực trạng đội ngũ và những giải pháp để phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Cán bộ Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2000: “cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước”. [23, tr 89] Ngày nay, thuật ngữ “cán bộ” được dùng rộng rãi trong các cơ quan hành chính nhà nước như: cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị… Như vậy có thể khái niệm cán bộ là những người được tuyển dụng, bổ 11 nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan Nhà nước. Cán bộ công tác theo nhiệm kỳ.
Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức danh, chức vụ; thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức; cán bộ được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đội ngũ Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2000 “Đội ngũ là khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng”. [23, tr 339] Ngày nay, thuật ngữ “đội ngũ” được dùng rộng rãi trong các tổ chức nghề nghiệp xã hội như: đội ngũ tri thức, đội ngũ nhà giáo, đội ngũ nhà báo, đội ngũ cán bộ… Như vậy có thể khái niệm đội ngũ là một tập thể người gắn bó với nhau theo cùng một lý tưởng, có mục đích chung, làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất. Cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh “Cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” là tên gọi của một người có chức vụ trong một tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, làm công tác nghiệp vụ chuyên môn về công tác thanh niên trong một tổ chức, một cơ quan có tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Khái niệm “cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” xuất hiện trong đời sống chính trị của nước ta từ khi Đoàn TNCS Hồ chí Minh được thành lập vào ngày 26/3/1931, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, lãnh đạo. Trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, từ “cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” được dùng với 2 nghĩa: Một là, dùng để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ 12 huy của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đoàn viên thanh niên. Hai là, những người làm công tác chuyên trách, có hưởng lương trong các cấp bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Về cơ bản từ “cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” bao hàm nghĩa chính của nó là “bộ khung”, là “nòng cốt”, là chỉ huy.
Như vậy có thể quan niệm một cách chung nhất “cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” là khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, có chuyên môn nghiệp vụ, có vai trò cương vị nòng cốt trong một tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức, cơ quan và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng phát triển của tổ chức. Với đặc điểm cán bộ trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đội ngũ cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được hiểu là các đồng chí đoàn viên được phân công nhiệm vụ lãnh đạo công tác Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh thiếu niên từ cấp Trung ương đến chi đoàn. Phát triển Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Lao động - Xã hội: “Phát triển là mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh”. [25, tr 499] Ngày nay thuật ngữ “phát triển” được sử dụng rộng rãi, trong kinh tế: phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp…, trong cuộc sống con người và xã hội: phát triển văn hóa, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cán bộ… Xét về bản chất, “phát triển” chính là biến đổi tăng tiến số lượng, nâng cao chất lượng hoặc dưới tác động bên ngoài làm biến đổi tăng tiến đều của mọi sự vật, hiện tượng, con người và xã hội.
Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm phát triển: sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của sự vận động hay là quá trình diễn ra có 13 nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hóa, phân hóa, chuyển đổi, mở rộng, cuối cùng mở ra biến đổi về chất.