CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm, đặc trưng và vai trò thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm cơ bản Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số (CB,CC người DTTS) là thuật ngữ được đề cập phổ biến trong nhiều công trình tài liệu nghiên cứu liên quan và hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước ta. * Dân tộc thiểu số: Theo Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội” [36; tr.
Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14-01-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc đã giải thích thuật ngữ: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Còn “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. * Cán bộ, công chức: Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị; người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ 9 luan an chức, phân biệt người không có chức vụ [27; tr. Tại khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [29].
Công chức (theo khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008) là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đối với CB,CC cấp xã, tại khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Từ các khái niệm, quan điểm về CB,CC nêu trên, các đặc trưng của CB,CC đó là: (1) CB,CC giữ một chức vụ, trọng trách trong hệ thống chính trị nói chung; (2) CB,CC phải qua bầu cử, tuyển chọn, đề bạt; (3 CB,CC được sự ủy thác của Nhà nước, các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và lấy danh nghĩa của Nhà nước và các tổ chức đó để hoạt động; (4) CB,CC hưởng lương và hưởng chế độ đãi ngộ căn cứ vào chất lượng lao động của họ. 10 luan an Như vậy, CB,CC người DTTS trước hết là công dân Việt Nam thuộc DTTS được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí việc làm, chức danh nhất định trong hệ thống chính trị, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chế độ đãi ngộ theo quy định của pháp luật.
* Phát triển và phát triển cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số Phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sự vật vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ kém hoặc chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số là quá trình gia tăng giá trị về kiến thức, trí tuệ, kỹ năng và đạo đức, phẩm chất cho cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số giúp cho họ có những phẩm chất và năng lực cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ phát triển mới. * Chính sách công: Chính sách nói chung và chính sách công nói riêng vốn là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến ở trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; và chúng được hiểu theo nhiều cách, như: - Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian ngắn nhất trên các lĩnh vực cụ thể nào đó.[35] - Chính sách được hiểu là sự bao hàm từ những quyết định có tính tương đối ngắn hạn đến các quyết định chiến lược, có ảnh hưởng lớn đến tổ chức và quốc kế dân sinh.[25] - Chính sách công là sự tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau được ban hành bởi một nhà chính trị hoặc một nhóm các nhà chính trị lựa chọn để giải quyết các mục tiêu và phương tiện thuộc phạm vi thẩm quyền của họ nhằm đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể. - Chính sách công là bất cứ những gì mà nhà nước lựa chọn làm hoặc 11 luan an không làm (Thomas R.
- Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.[21] - Chính sách công là chương trình hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể.114] Như vậy, từ những đặc điểm về chính sách công thì dấu hiệu tương đối thống nhất có thể chỉ ra, đó là: (1) Chính sách công do Nhà nước ban hành bởi những quyết định quản lý gắn kết nhau kèm theo chương trình hành động hướng vào giải quyết vấn đề công cộng và tác động đến lợi ích của một hay nhiều nhóm dân cư trong xã hội (thể hiện một cách tập trung về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền, nhà nước và xã hội); (2) Mục tiêu của chính sách công là nhằm vào việc điều chỉnh hành vi hoặc tạo ra những chuyển biến về hiện trạng vấn đề để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của xã hội. Theo đó, có thể hiểu: Chính sách công là tập hợp những quyết định quản lý do Nhà nước ban hành để lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ để giải quyết vấn đề nào đó trong đời sống thực tiễn, nhằm phục vụ cho lợi ích công và bảo đảm cho xã hội phát triển theo định hướng xác định. * Thực hiện chính sách công: Thực hiện chính sách công, đó là bước chuyển biến ý đồ của chính sách thành kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của cơ quan nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra[26; tr. Với học giả Thomas Dye cho rằng, thực hiện chính sách công là việc tổ chức thiết kế các hoạt động để thực thi chính sách đã được cơ quan lập pháp phê chuẩn[32; tr.
Như vậy, có thể xác định: Thực hiện chính sách công là quá trình chuyển hóa ý chí của chính sách công thành hiện thực thông qua tổ chức các hoạt động của cơ quan 12 luan an nhà nước có thẩm quyền có liên quan để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến. * Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số. Chính sách phát triển CB,CC người DTTS là tập hợp những quyết định do Nhà nước ban hành để lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ để giải quyết vấn đề thực tiễn về CB,CC người DTTS nhằm xây dựng một đội ngũ CB,CC người DTTS có đủ số lượng và cơ cấu hợp lý, đảm bảo chất lượng được chuẩn hoá đồng bộ về trình độ và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn nhất định. Như vậy: Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ CB,CC người DTTS được hiểu là quá trình chuyển hóa ý chí của chính sách này thành hiện thực thông qua tổ chức các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tác động lên CB,CC người DTTS nhằm đạt mục tiêu xây dựng một đội ngũ CB,CC người DTTS có đủ số lượng và cơ cấu hợp lý, đảm bảo chất lượng được chuẩn hoá đồng bộ về trình độ và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội trong giai đoạn nhất định.
Đặc trưng của chính sách phát triển đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số - Chính sách phát triển đội ngũ CB,CC người DTTS là chương trình hành động của Nhà nước hướng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với CB,CC người DTTS. - Mục tiêu của chính sách phát triển đội ngũ CB,CC người DTTS là tạo ra sự chuyển biến về hiện trạng vấn đề để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một đội ngũ CB,CC người DTTS có đủ số lượng và cơ cấu hợp lý, đảm bảo chất lượng được chuẩn hoá đồng bộ về trình độ và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Trong đó, mục tiêu trước tiên là giúp cho CB,CC người DTTS điều chỉnh hành vi phù hợp để tạo nên giá trị chất lượng đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ 13 luan an chính trị đã được xác định về vị trí việc làm, vị trí chức danh của họ trong tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị. - Chính sách phát triển đội ngũ CB,CC người DTTS gắn liền với nội dung căn bản, đó là: (1) Quy hoạch phát triển nhân lực CB,CC người DTTS để tập hợp, đào tạo và bố trí sử dụng một đội ngũ CB,CC người DTTS như dự kiến có đủ số lượng và cơ cấu hợp lý, đảm bảo chất lượng về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị và kỹ năng làm việc;.