CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp thương mại dich vụ nhỏ và vừa 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2014 định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [23]. Doanh nghiệp gồm các đặc trưng cơ bản như sau: - Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, cung ứng, trao đổi, hợp tác và tiêu thụ sản phẩm nhằm mục tiêu sinh lời. - Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. - Phương tiện để đạt lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp là cải tiến sản xuất thỏa mãn lợi ích của người tiêu dùng.
Doanh nghiệp phải tôn trọng quyền lợi của người tiêu dùng. - Doanh nghiệp phải tôn trọng pháp luật và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động. - Doanh nghiệp tùy theo khả năng của mình có thể tự nguyện tham gia vào các hoạt động xã hội.
Tại mỗi quốc gia có nền kinh tế khác nhau, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế thì quan niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cũng khác nhau. Chẳng hạn tại các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng nhân viên dưới 250 người và doanh thu hàng năm là nhỏ hơn 50 triệu euro. Còn tại nước Mỹ thì DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng người lao động dưới 500 người (cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu hàng năm là dưới 7 triệu đô la đối với đa số các ngành không liên 6 quan tới sản xuất. Tại Châu Á, các DNNVV tại HongKong được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên.
Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người. Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại HongKong còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ đã đưa ra một định nghĩa chung về DNNVV để các ban ngành, địa phương, các tổ chức có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển. Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm [5].
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người; doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người; doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở Việt Nam, dựa vào hai tiêu chí là tổng số lao động và tổng vốn đầu tư để xác định loại hình DNNVV. Điều 4 Luật hỗ trợ DNNVV ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2017 cũng nêu rõ: “DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ” [24].
Ở các quốc gia khác nhau, mức độ định lượng rất khác nhau. Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia được trình bày ở bảng sau. Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Số lao động Quốc gia Phân loại Vốn đầu tư Doanh thu bình quân Mỹ Tất cả các ngành ≤ 500 - - Chế tác ≤ 300 < 300 triệu yên - Bán buôn ≤ 100 ≤ 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ ≤ 50 ≤ 50 triệu yên Dịch vụ ≤ 100 ≤ 100 triệu yên - Doanh nghiệp cực nhỏ < 10 - EU Doanh nghiệp nhỏ <0 - 7 triệu ero Doanh nghiệp vừa < 250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - ≤ 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Buôn bán nhỏ - ≤ 50 triệu bạt - Thái Lan Buôn bán vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - ≤ 30 triệu bạt Bán lẻ vừa - 50-60 triệu bạt Singapore - < 100 < 1,2 triệu đô la - (Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của APEC 1998, UN/EEC 1999 và OECD 2000) Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại DNNVV cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước. Trước năm 1998, Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể về DNNVV.
Do đó, mỗi tổ chức, mỗi địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV, nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình, chẳng hạn: Ngân hàng Công thương đưa ra tiêu chí DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người; Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNNVV dựa trên mục tiêu hỗ trợ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ, quy định DNNVV ở nước ta gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp ngoài Nhà nước: Hợp tác xã; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; 8 Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; Công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới hoặc bằng 50%; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tiêu chí xác định DNNVV tại Việt Nam được trình bày ở bảng sau. Tiêu chí xác định Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam DN DN DN siêu nhỏ nhỏ vừa Ngành nghề Số lao Tổng Số Tổng Số động nguồn vốn lao động nguồn vốn lao động (người) (tỷ đồng) (người) (tỷ đồng) (người) 1.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản ≤ 10 ≤ 20 11 - 200 > 20 - 100 > 200 - 300 2. Công nghiệp và xây dựng ≤ 10 ≤ 20 11 - 200 > 20 - 100 > 200 - 300 3. Thương mại và dịch vụ ≤ 10 ≤ 10 11-50 > 10 - 50 > 50 - 100 (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng tiêu chí sau: Phải là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm. Tùy theo phạm vi hoạt động mà người ta chia DNNVV ra làm các loại như: Doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp thương mại dịch vụ.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đã lấy tiêu chí số lao động và vốn đầu tư của các doanh nghiệp để xác định DNTMDV nhỏ và vừa, vì đây là tiêu chí ổn định, có độ chính xác cao nhất và dễ dàng thu thập [5]. Khái niệm doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhỏ và vừa Từ những phân tích ở trên có thể hiểu, doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhỏ và vừa là các cơ sở hoạt động kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có số vốn đăng ký không quá 50 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 100 người. Đặc điểm của doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhỏ và vừa DNTMDV nhỏ và vừa có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, dễ khởi nghiệp. Luật doanh nghiệp hiện nay không quy định mức vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư tối thiểu, số lao động tối thiểu bắt buộc khi đăng ký 9 doanh nghiệp.
Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNTMDV nhỏ và vừa đăng ký gia tăng nhanh chóng [20]. Hai là, có tính linh hoạt cao theo cơ chế thị trường. Đây là đặc điểm gắn liền với các DNTMDV nhỏ và vừa. Do quy mô không lớn nên đầu tư của các DNTMDV nhỏ và vừa vào các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lợi thì lập tức các DNTMDV nhỏ và vừa sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn.
Ba là, có một số lợi thế tương đối như lãi suất đầu tư thấp nhờ phát huy các nguồn lực đầu vào tại chỗ như lao động, tài nguyên hay nguồn vốn, khai thác và phát huy các ngành nghề truyền thống của từng địa phương. Bốn là, có lợi thế trong việc theo sát nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, qua đó sáng tạo ra nhiều loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Bên cạnh những ưu thế DNTMDV nhỏ và vừa cũng còn những đặc điểm yếu thế cần được giúp đỡ của Nhà nước, các tổ chức và xã hội. - Hầu hết các DNTMDV nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, hoạt động phân tán, thiếu các nguồn lực để tiến hành các dự án đầu tư lớn; khả năng mở rộng thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường quốc tế có nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp thiếu tính chiến lược và không có kế hoạch dài hạn.