CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI NHÀ NƯỚC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) 1. Khái niệm về doanh nghiệp Theo luật Doanh nghiệp ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Việt Nam: “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Cũng theo luật doanh nghiệp 2014 giải thích: kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận. Cũng theo luật trên, ta có thể phân loại các DN thành: Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cũng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.
5 Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra còn có các thuật ngữ sau: - Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Nó gồm có các hình thức sau: công ty mẹ - công ty con, tập đoàn kinh tế, … - Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật Việt Nam cho rằng khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa và sau đó là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ này rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp.
Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký, doanh thu,… các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, tùy từng chương trình phát triển khác nhau. DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Ở Việt Nam, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV. Nghị định đã đưa ra một định nghĩa chung về DNNVV để các ban ngành, địa phương, các tổ chức trong và ngoài nước có căn cứ xác định đối tượng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp 6 DNNVV phát triển.
Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm.[1] Về tiêu chí xác định DNNVV Mỗi quốc gia trên thế giới có những tiêu chí xác định DNNVV riêng tuy nhiên chủ yếu dựa vào chỉ tiêu doanh thu, thu nhập, lao động và vốn đầu tư, một số quốc gia xác định theo tiêu chí doanh thu hoặc thu nhập như Malayxia, một số quốc gia xác định theo tiêu chí thu nhập của doanh nghiệp như Hàn Quốc, một số khác kết hợp cả đồng thời 2 hay 3 tiêu chí, như Pháp sử dụng 2 tiêu chí doanh thu và thu nhập, Trung Quốc sử dụng cả 3 tiêu chí để xác định là doanh thu, lao động và tài sản Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động.1: Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Tên nước Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu Mỹ Tất cả các ngành 500 - - Chế tác 300 <300 triệu yên - Bán buôn 100 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ 50 50 triệu yên - Dịch vụ 100 100 triệu yên - DN cực nhỏ < 10 - - EU DN nhỏ <50 - 7 triệu ero DN vừa < 250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Bán buôn nhỏ - 50 triệu bạt - Thái Lan Bán buôn vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - 30 triệu bạt - Bán lẻ vừa - 30-60 triệu bạt - Singapore - <100 < 1,2 triệu đô la - (Nguồn: APEC 1998 và OECD 2000) 7 Ở Việt Nam, nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lượng lao động và tổng vốn đầu tư để xác định loại hình DNNVV. Nhưng ở mỗi nước, mức độ định lượng rất khác nhau. Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại DNNVV cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nước. Trước năm 1998, Nhà nước chưa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể về DNNVV.
Do đó, mỗi tổ chức, mỗi địa phương đưa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV, nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ của tổ chức, địa phương mình. Ví dụ: - Ngân hàng Công thương đưa ra tiêu chí DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người. - Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định DNNVV dựa trên mục tiêu hỗ trợ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định DNNVV ở nước ta gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp ngoài Nhà nước (Hợp tác xã; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; Công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới hoặc bằng 50%); Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tiêu chí DNNVV được xác định như sau: Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô Tổng Tổng Số lao Số Số lao động nguồn nguồn động lao động (người) vốn (tỷ vốn Khu vực (người) (người) đồng) (tỷ đồng) I. Nông, lâm < 10 20 10-200 > 20 – 100 > 200 - 300 nghiệp và thủy sản II. CN và xây dựng < 10 20 10-200 > 20 – 100 > 200 - 300 III. Thương mại và < 10 10 10 – 50 > 10 – 50 > 50 - 100 dịch vụ (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ) 8 Theo cách phân loại này, theo Tổng cục Thống kê, số lượng DNNVV chiếm 98,1% tổng số doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam.
Trung bình mỗi năm DNNVV đã tạo thêm khoảng nửa triệu lao động mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp trên 40% GDP cho nền kinh tế. Khái niệm về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Phạm trù phát triển rất khó định nghĩa một cách chính xác, có thể hiểu phát triển là bao hàm sự tăng trưởng, sự thay đổi cơ cấu theo hướng tiến bộ, hiệu quả, bền vững. Phát triển kinh tế được hiểu là một quá trình vận động đi lên, thay đổi theo hướng hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế, đặc biệt là cải thiện sức khỏe, giáo dục và những khía cạnh khác về phúc lợi xã hội. Trong thực tế thuật ngữ “tăng trưởng kinh tế” và thuật ngữ “phát triển kinh tế” cũng có thể thay thế cho nhau, nhưng về cơ bản thì khác nhau.
Phát triển kinh tế có nội dung phản ảnh rộng hơn tăng trưởng kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế phản ánh về mặt lượng thì phát triển kinh tế còn phản ánh cả về mặt chất.