Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DNNVV khu vực ngoài nhà nước Chương 2: Thực trạng phát triển DNNVV khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển DNNVV khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh những năm tiếp theo 6 PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA KHU VỰC NGOÀI NHÀ NƢỚC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát chung về doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (theo mục 7 điều 1 chƣơng 1 Luật Doanh nghiệp 2014).
Có nhiều quan điểm khác nhau về DN, nhƣng thông thƣờng cần có những điều kiện sau để đƣợc công nhận là một doanh nghiệp: - Là tổ chức kinh tế có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; - Có vốn pháp định để kinh doanh; - Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình. Các loại hình doanh nghiệp Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng rất đa dạng và phong phú. Tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà ngƣời ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau, trong đó dựa theo quy mô có thể chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV. Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là DNNVV là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Trên cơ sở đó mỗi nƣớc lại chọn cho mình 7 những tiêu chí khác nhau để phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNNVV cho phù hợp với sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của đất nƣớc trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của nền kinh tế. Theo Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định năm loại hình doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, đó là: Tập thể, Doanh nghiệp tƣ nhân (DNTN), Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp danh. Cơ cấu doanh nghiệp theo thành phần kinh tế Ở Việt Nam hiện tồn tại 5 thành phần kinh tế bao gồm: Kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân, kinh tế cá thể, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Căn cứ vào 5 thành phần kinh tế này ngƣời ta chia thành các loại hình doanh nghiệp sau đây: doanh nghiệp nhà nƣớc; doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc; doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
- Doanh nghiệp nhà nước: Là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, trong khi các công ty tƣ nhân chỉ phải tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, doanh nghiệp Nhà nƣớc thƣờng phải gồng gánh một số trách nhiệm xã hội, hoạt động vì lợi ích của ngƣời dân, đƣợc thành lập để đối phó với những thất bại của thị trƣờng. Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nƣớc không hƣớng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận nhƣ các công ty tƣ nhân. - Doanh nghiệp ngoài nhà nước: Gồm các doanh nghiệp vốn trong nƣớc, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tƣ nhân một ngƣời hoặc nhóm ngƣời, hoặc có sở hữu Nhà nƣớc nhƣng chiếm dƣới 50% vốn điều lệ trở xuống.
Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nƣớc gồm: các hợp tác xã; các doanh nghiệp tƣ nhân; các công ty hợp danh; các công ty trách nhiệm hữu hạn tƣ nhân; các công ty cổ phần không có vốn nhà nƣớc; các công ty cổ phần có tỷ lệ vốn nhà nƣớc từ 50% vốn điều lệ trở xuống. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nƣớc ngoài 8 góp là bao nhiêu. Khu vực này gồm hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh giữa nƣớc ngoài với các đối tác trong nƣớc. Khái niệm và tiêu chí xác định DNNVV 1.
Khái niệm DNNVV Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng đƣợc hiểu là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ: DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu đƣợc trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Ở Việt Nam, ngày 30/6/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV.
Nghị định đã đƣa ra một định nghĩa chung về DNNVV để các ban ngành, địa phƣơng, các tổ chức trong và ngoài nƣớc có căn cứ xác định đối tƣợng thực hiện chính sách và các biện pháp trợ giúp DNNVV phát triển. Theo đó: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn hoặc số lao động bình quân năm. Tiêu chí xác định DNNVV Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, DN nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nƣớc, ngƣời ta có tiêu chí riêng để xác định DNNVV.
Ở Việt Nam, nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí chủ yếu là số lƣợng lao động và tổng vốn đầu tƣ để xác định loại hình DNNVV. Nhƣng ở mỗi nƣớc, mức độ định lƣợng rất khác nhau (Theo bảng 1. Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia).1: Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số quốc gia Tên nƣớc Phân loại Số lao động Số vốn Doanh thu Mỹ Tất cả các ngành 500 - - Chế tác 300 <300 triệu yên - Bán buôn 100 100 triệu yên - Nhật Bản Bán lẻ 50 50 triệu yên - Dịch vụ 100 100 triệu yên - DN cực nhỏ < 10 - - EU DN nhỏ <50 - 7 triệu ero DN vừa < 250 - 40 triệu ero Sản xuất nhỏ - 50 triệu bạt - Sản xuất vừa - 50-200 triệu bạt - Bán buôn nhỏ - 50 triệu bạt - Thái Lan Bán buôn vừa - 50-100 triệu bạt - Bán lẻ nhỏ - 30 triệu bạt - Bán lẻ vừa - 30-60 triệu bạt - Singapore - <100 < 1,2 triệu đô la - Nguồn: APEC 1998 và OECD 2000 Ở Việt Nam, sự hình thành quan niệm và cách phân loại DNNVV cũng rất khác nhau qua các thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Trƣớc năm 1998, Nhà nƣớc chƣa có văn bản pháp luật nào quy định tiêu chí cụ thể về DNNVV.
Do đó, mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng đƣa ra một quan niệm khác nhau về DNNVV, nhằm định hƣớng mục tiêu và đối tƣợng hỗ trợ của tổ chức, địa phƣơng mình. Ví dụ: - Ngân hàng Công thƣơng đƣa ra tiêu chí DNNVV là những doanh nghiệp có giá trị tài sản cố định dƣới 10 tỷ đồng, vốn lƣu động dƣới 8 tỷ đồng, doanh thu dƣới 8 tỷ đồng và số lao động thƣờng xuyên dƣới 500 ngƣời. - Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) tại Việt Nam lại đƣa ra tiêu thức xác định DNNVV dựa trên mục tiêu hỗ trợ: Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thƣờng xuyên từ 51 đến 200 ngƣời, tổng số vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng. Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định DNNVV ở nƣớc ta gồm: Doanh nghiệp Nhà nƣớc; Doanh nghiệp ngoài Nhà 10 nƣớc: Hợp tác xã; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; Công ty cổ phần có vốn nhà nước dưới hoặc bằng 50%; Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Tiêu chí DNNVV đƣợc xác định nhƣ sau: Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam DN siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô nhỏ Tổng Tổng Số lao Số lao Số nguồn nguồn Lĩnh vực động động lao động vốn (tỷ vốn (ngƣời) (ngƣời) (ngƣời) đồng) (tỷ đồng) I. Nông,lâm nghiệp < 10 20 10-200 > 20 – 100 > 200 - 300 và thủy sản II. CN và xây dựng < 10 20 10-200 > 20 – 100 > 200 - 300 III. Thương mại và < 10 10 10 – 50 > 10 – 50 > 50 - 100 dịch vụ Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP Theo cách phân loại này, số lƣợng DNNVV chiếm 97% tổng số doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam.
Trung bình mỗi năm DNNVV đã tạo thêm khoảng nửa triệu lao động mới, sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp trên 40% GDP cho nền kinh tế. Vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế xã hội 1. Đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế Ở hầu hết các nền kinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có đƣợc sự ổn định.
Vì vậy, DNNVV đƣợc xem nhƣ thanh giảm sốc cho nền kinh tế trƣớc những biến động lớn. Với lợi thế về vốn đầu tƣ ít và nguồn lao động dồi dào, trong những năm qua, DNNVV phát triển ngày càng nhanh và chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng số doanh nghiệp. DNNVV cung cấp cho thị trƣờng nhiều mặt hàng phong phú, đa dạng ở tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tạo ra nhiều sự lựa chọn, đáp ứng đƣợc mọi nhu cầu của ngƣời tiêu dùng, từ đó thúc đẩy sức tiêu thụ 11 của nền kinh tế. Vì thế mức độ đóng góp của các DNNVV vào tổng sản lƣợng của nền kinh tế là rất lớn.