CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Quan niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Quan niệm của thế giới Khái niệm DNNVV tuy có mặt ở rất nhiều nền kinh tế trên thế giới, nhưng lại không có một điểm chung thống nhất giữa các quốc gia thế nào là một DNNVV, điều này thể hiện sự khác nhau giữa các điều kiện hoàn cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế xã hội giữa các quốc gia, đồng thời thể hiện sự khác nhau trong các chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các DNNVV giữa các quốc gia.
Việc xác định thế nào là một DNNVV có ý nghĩa rất quan trọng để xác định đúng đối tượng. Nếu xác định rộng thì các chính sách ưu đãi lại không đủ sức bao quát, tác dụng hỗ trợ theo đó giảm đi rất nhiều. Ngược lại, nếu xác định hẹp khái niệm DNNVV thì tác dụng của sự hỗ trợ lại ít có tác dụng đến nền kinh tế. Dưới đây là cách xác định DNNVV ỏ một số quốc gia và khu vực: Khu vực EU Đây là khu vực phát triển rất mạnh các DNNVV (80% số doanh nghiệp EU có số lượng dưới 100 người).
Tiêu chí xác định DNNVV ở EU căn cứ vào 3 yếu tố chính là: số lao động được sử dụng thường xuyên, doanh số bán hàng năm và vốn đầu tư cho sản xuất. 6 Sự phân định như vậy chưa xác đáng vì không phân biệt các doanh nghiệp giữa các ngành trong khi có một thực tế là đặc điểm kinh tế giữa các ngành nhiều khi quyết định qui mô doanh nghiệp. Phân loại DNNVV của khu vực EU Tiêu thức phân loại Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Số lao động tối đa 50 250 Doanh thu/ năm tối đa 7 triệu EURO 40 triệu EURO Tồng kết tài sản/ năm tối 5 triệu EURO 27 triệu EURO đa Nguồn: Bộ Kế hoạch- Đầu tư Tại các nước ASEAN, khái niệm về DNNVV còn có sự khác nhau. Song nhìn chung các nước Singapore, Malaixia, Inđônêxia, Thái lan, Philippin đều dựa vào 2 tiêu chí cơ bản để phân định một doanh nghiệp thuộc quy mô vừa, nhỏ hay lớn, đó là: số lượng lao động được sử dụng và vốn đầu tư.
Ví dụ: với Singapore, quan niệm DNNVV là những doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 100 người và vốn đầu tư dưới 1,2 triệu đô la Singapore. Với Malaixia, DNNVV là những doanh nghiệp có số lao động dưới 200 người và vốn đầu tư dưới 2,5 triệu đô la Malaixia. Còn với Inđônêxia, Thái lan và Philippin thì có sự phân loại chi tiết hơn thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp cực nhỏ trong đó doanh nghiệp cực nhỏ thường là những hộ kinh doanh trong phạm vi gia đình. Như vậy quan niệm thế nào là một DNNVV ở một số nước ASEAN còn có sự khác nhau, đồng thời sự phân định này chỉ mang ý nghĩa tương đối và chủ yếu căn cứ vào quy mô về vốn và lao động của nó.
Do đó cách xác định DNNVV cũng mắc phải một số nhược điểm như cách phân loại một số nước trong khu vực EU, Tức là chưa xét đến yếu tố đặc điểm kinh tế ngành. 7 Khái niệm DNNVV tại Nhật bản được xác định trong “Luật cơ bản về DNNVV” ban hành năm 1963, được sửa đổi năm 1973 và 1999. Trong Luật này các tiêu chuẩn xác định DNNVV đã phần nào khắc phục được những nhược điểm trên. Cụ thể là, việc phân định DNNVV ở nước này đã có sự khác biệt giữa các ngành.
Tùy theo từng ngành nghề mà DNNVV và doanh nghiệp loại nhỏ được phân loại khác nhau xét theo vốn pháp định và số lượng lao động như sau: Bảng 1.2 : Phân loại DNNVV của Nhật Bản Doanh nghiệp vừa Doanh Năm 1963 Năm 1973 Năm 1999 nghiệp nhỏ Ngành Vốn Lao Vốn Lao Vốn Lao (triệu động (triệu động (triệu động Lao động Yên) Yên) Yên) Công nghiệp, khai ≤50 ≤300 ≤300 ≤100 ≤300 ≤300 ≤20 khoáng Bán buôn ≤100 ≤30 ≤100 ≤100 Bán lẻ ≤10 ≤30 ≤50 ≤50 ≤5 ≤50 ≤10 Dịch vụ ≤10 ≤50 Nguồn: Tổng cục DNNVV Nhật Bản, www.jp Hoa Kỳ Tại Mỹ, nơi mà khi nhắc tới, người ta nghĩ ngay đến những tập đoàn kinh tế hùng mạnh thì vai trò của các DNNVV cũng được rất đề cao ở đây. Việc phân loại các DNNVV cũng đã tính đến sự khác biệt giữa các ngành. Bên cạnh những tiêu chuẩn về mặt định lượng như: Lợi nhuận với mức tăng trưởng hàng năm dưới 150.000 USD trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và thương mại; hay các tiêu chuẩn về lao động để phân loại quy mô 8 DNNVV tùy thuộc vào từng ngành riêng biệt như sau: Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp: Tổ chức có từ 250 lao động trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ. Trong ngành công nghiệp, dịch vụ và thương mại bán lẻ: doanh nghiệp có dưới 100 lao động thì được coi là nhỏ; từ 100-1.000 lao động được coi là vừa và từ 1.000 lao động trở lên được coi là lớn và rất lớn.
Luật DNNVV của Mỹ còn có thêm một số tiêu chuẩn về mặt định tính như: DNNVV là một xí nghiệp độc lập, không ở vào địa vị chi phối trong ngành của mình liên quan. Theo khái niệm của Mỹ, các DNNVV không phải là công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh của những công ty lớn. Điều này khác hẳn với các DNNVV ở Nhật, các công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh thuộc công ty lớn vẫn được hưởng những đặc quyền của các DNNVV. Khái niệm DNNVV của Hàn quốc được quy định tại “Đạo luật cơ bản về DNNVV của Hàn Quốc” ban hành năm 1966 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung.
Theo đó, việc phân loại DNNVV được thực hiện theo hai nhóm ngành: Trong ngành chế tạo, khai thác và xây dựng: các doanh nghiệp có vốn đầu tư dưới 600.000 USD và số lao động thường xuyên từ 200-300 người là doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp có dưới 20 lao động thường xuyên là doanh nghiệp nhỏ. Trong thương mại: DNNVV là doanh nghiệp có doanh thu dưới 250. Doanh nghiệp có từ 6 tới 20 lao động là doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp có lao động dưới 5 người được coi là doanh nghiệp nhỏ,. Nhận xét chung: Khái niệm DNNVV chỉ nên được hiểu một cách tương đối, bởi sự quan niệm về các DNNVV ở các quốc gia và các khu vực trên thế giới là không 9 đồng nhất hoàn toàn do ảnh hưởng của các nhân tố vốn không hề giống nhau giữa các khu vực và quốc gia, đó là trình độ phát triển kinh tế xã hội, tính chất nghề nghiệp, cơ cấu vùng lãnh thổ, tính lịch sử, mục đích phân loại… Qua những khái niệm DNNVV đã và đang được áp dụng rộng rãi trên thực tế ở nhiều nước, có thể thấy rằng nhóm tiêu chí phân loại “lao động” và “vốn” đầu tư được sử dụng khá phổ biến.
Và tuỳ theo điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của mỗi nước mà các thước đo này cao hoặc thấp, và có thể đi kèm thêm các tiêu chí phân loại khác. Trong tiến trình hội nhập kinh tế, Việt Nam có thể học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm tổ chức và quản lý DNNVV của các nước trên thế giới và trong khu vực. Quan niệm ở Việt Nam Ở Việt Nam, những năm gần đây chúng ta đã bắt đầu nhận thức và quan tâm đến tầm quan trọng của DNNVV. Ngày 29/11/2000, tại Hà nội, Ngân hàng thế giới (WB) đã công bố bản báo cáo: “Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21” với đề xuất đưa ra 6 trụ cột của chiến lược phát triển nền kinh tế Việt Nam thì trụ cột đầu tiên là: “Tạo dựng môi trường giúp đỡ các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV”.
Tuy nhiên, cho đến trước năm 1998 khái niệm về DNNVV chưa được một văn bản pháp lý nào của Nhà nước công nhận cụ thể. Quan niệm về DNNVV ở Việt Nam vì vậy mà rất khác nhau. Cụ thể là: Ngân hàng công thương Việt Nam đưa ra qui định DNNVV là doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, số lao động thường xuyên dưới 500 người và doanh thu dưới 20 tỷ đồng/năm. Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội và Bộ Tài chính quy định tiêu chí xác định DNNVV tại Thông tư số 21/LĐTT ngày 17/6/1993, theo đó, DNNVV là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới 100 người, 10 doanh thu hàng năm dưới 10 tỷ, vốn pháp định dưới 10 tỷ.
Thành phố Hồ Chí Minh, xác định doanh nghiệp qui mô vừa là doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, lao động có trên 100 người, doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp qui mô nhỏ có các tiêu thức dưới mức trên. Quỹ hỗ trợ DNNVV thuộc chương trình Việt Nam-EU coi DNNVV là những DN có số lao động từ 10 đến 500 người và vốn điều lệ từ 50.000 USD tức từ khoảng 650 triệu đồng đến 3,9 tỷ đồng Việt Nam. Như vậy, mỗi tổ chức, mỗi dự án đều có một cách xác định riêng cho mình về DNNVV.
Điều này tạo ra sự thiếu nhất quán và khó khăn cho Chính phủ trong việc đưa ra các chính sách ưu đãi một cách công bằng và hiệu quả và cũng tạo ra khó khăn cho chính các DNNVV khi thực hiện chính sách hỗ trợ. Thủ tướng Chính phủ đã có qui định tại Công văn số 681/CP-KTN xác định tiêu thức DNNVV tạm thời qui định trong giai đoạn hiện nay là: “DNNVV là những doanh nghiệp có vốn điều lệ trung bình dưới 5 tỷ VND và có số lao động trung bình dưới 200 người”. Tuy mới chỉ là tiêu chí quy ước tạm thời mang tính hành chính để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV nhưng có thể coi đây chính là bước đi đầu tiên của chính phủ trong việc xây dựng 1 cơ sỏ pháp lý chính thức là cơ sở hoạch định và triển khai các chính sách và biện pháp phát triển DNNVV tại Việt Nam. Cũng theo qui định này, doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lao động dưới 30 người và vốn dưới 1 tỷ VND.
Doanh nghiệp vừa là các doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ VND đến 5 tỷ VND. Đối với các doanh nghiệp công nghiệp thì doanh nghiệp nhỏ có vốn từ 1 tỷ VND trở xuống, các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ thì số lao động dưới 30 người. Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và khu vực. Xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.