Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển dịch vụ vận tải biển Chương 2: Phân tích tình hình phát triển của dịch vụ vận tải biển tại công ty TN HH Liên kết toàn cầu – Chi nhánh Đà N ẵng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ vận tải biển tại công ty TN HH Liên kết toàn cầu – Chi nhánh Đà N ẵng đến năm 2025. Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: Thái Thị Thu 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂ DNCH VỤ VẬ TẢI BIỂ 1.
TỔ G QUA VỀ VẬ TẢI BIỂ VÀ PHÁT TRIỂ DNCH VỤ VẬ TẢI BIỂ 1. Tổng quan về vận tải biển 1. Sự hình thành và phát triển dịch vụ vận tải biển N gày từ thời xa xưa, loài người đã nhận thức được đại dương chiếm diện tích vô cùng lớn trên bề mặt trái đất. Chính vì vậy, có thể nói ngành vận tải biển xuất hiện ngay khi hình thức vận tải hàng hóa ra đời thời cổ đại (Khoảng thế kỷ V - TCN ).
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu chủ yếu vẫn là vận tải ven bờ, khối lượng hàng hoá nhỏ. Đến thế kỷ 17,18 hàng hoá đã phong phú nhưng vận tải biển mới chỉ chú ý đến những mặt hàng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt. Đến thế kỷ 19, các tuyến vận tải khối lượng hàng hóa đã tăng đồng thời phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại thế giới. Đặc biệt những năm 40-50 của thế kỷ này hàng loạt các công ty vận tải biển ra đời.
N ăm 1869 khai thông kênh Suez, năm 1895 khai thông kênh Kiel thúc đNy vận tải biển phát triển mạnh mẽ. Đến đầu thế kỷ 20 hàng nguyên liệu công nghiệp chiếm 2/3 khối lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ 2, vận tải biển mặc dù số lượng hàng hóa vận chuyển giảm nhưng lại góp phần quan trọng vào hoạt động vận chuyển vũ khí, đạn dược và quân đội đến vùng tham chiến. Sau cuộc thế chiến thứ 2 đến nay, các quốc gia bắt đầu phục hồi, hoạt động giao thương phát triển trên toàn cầu, vận tải biển ngày càng phát triển với hệ thống cơ sở hạ tầng được nâng cấp hiện đại phục vụ nhu cầu xúc tiến thương mại thế giới.
Trong thời kỳ hiện đại, phương thức vận tải đường biển đã trở thành phương thức vận tải quốc tế quan trọng. Cũng là sự lựa chọn hàng đầu cho các đơn vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn. Là nền tảng cơ bản để kích thích kinh tế thế giới ngày càng phát triển hơn. N hững loại phương tiện tàu hàng hiện đại với kích cỡ lớn và khả SVTH: Thái Thị Thu 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hồ Thị Hương Lan năng chuyên chở khổng lồ vẫn đang được sử dụng cho công việc chở hàng mỗi ngày trên biển. Ưu – hược điểm của dịch vụ vận tải biển Trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa, từ lâu luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt giữa dịch vụ vận tải đường biển, bộ, sắt và hàng không. Mỗi hình thức vận tải có những ưu điểm nhược điểm khác nhau. Vận tải đường biển có những ưu điểm so với những phương thức khác: Một là, vận tải biển là hình thức có năng lực vận chuyển lớn: sức chứa của các phương tiện tàu biển rất lớn, đồng thời có thể chạy nhiều tàu trong cùng thời điểm với cùng một tuyến vận chuyển, thời gian chờ của tàu tại các cảng ngày càng giảm nhờ sử dụng container và các phương tiện xếp dỡ hiện đại, dẫn đến khả năng thông quan của cảng biển rất lớn.
Hai là, vận tải đường biển phù hợp cho hoạt động chuyên chở hầu hết các loại hàng hóa trong giao thương quốc tế. Đặc biệt phù hợp và hiệu quả cho các loại hàng rời có khối lượng lớn nhưng giá trị thấp như khoáng sản, nhiên liệu, lương thực. Ba là, chi phí ban đầu cho các tuyến đường vận chuyển đường biển thấp, vì hầu hết các tuyến đường đều là tự nhiên không đòi hỏi nhiều nguồn vốn, nguyên vật liệu, nguồn lao động để xây dựng, duy trì cũng như bảo quản ngoài các kênh đào và hải cảng. Bốn là, giá thành vận tải biển thấp.
Giá thành của hình thức vận tải này được xếp vào loại thấp nhất trong các phương thức vận chuyển do trọng tải đội tàu thường lớn, cự ly vận chuyển trung bình lớn, năng suất lao động trong ngành vận tải biển cao. Đồng thời việc áp dụng ngày càng nhiều những tiến bộ về khoa học – kỹ thuật trong vận tải biển và trong mạng lưới thông tin nên giá thành vận tải biển có xu hướng giảm thêm. ăm là, tiêu thụ nhiên liệu trên một tấn trọng tải thấp. Tuy nhiên, vận tải đường biển cũng có nhược điểm: SVTH: Thái Thị Thu 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hồ Thị Hương Lan Một là, tốc độ vận chuyển tương đối thấp. Thực tế, các tàu biển chỉ có vận tốc đạt khoảng 14-20 hải lý/giờ. N ếu so sánh với các phương tiện khác như máy bay, tàu hỏa thì tốc độ này không cao, nhưng đối với các tàu chở hàng người ta thường duy trì một vận tốc kinh tế để giá thành vận tải không bị gia tăng. Hai là, chịu tác động lớn từ điều kiện tự nhiên như mưa, gió, bão, lụt, băng tuyết.
Quãng đường vận chuyển của tàu biển thường dài và di chuyển qua nhiều vùng khí hậu khác nhau, các ảnh hưởng của thiên nhiên không diễn biến một cách ổn định theo một quy luật nào. Vì thế, mặc dù khoa học – công nghệ đang ngày càng phát triển, kéo theo khả năng dự báo thời tiết ngày càng tốt hơn nhưng rủi ro vẫn luôn có thể xảy ra. Đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày nay, thời tiết thật sự có nhiều biến động thất thường, ngày càng xuất hiện nhiều các hiện tượng thiên nhiên tiêu cực, nhất là các cơn bão, nên tổn thất trong vận tải biển vẫn luôn có thể xảy ra. Ba là, khó khăn trong việc cứu hộ, cứu nạn.
Đôi khi, quá trình vận chuyển có thể xảy ra sự cố, rủi ro do sai sót trong kỹ thuật thiết kế chế tạo hay bảo dưỡng; không những thế, các tàu vận tải thường di chuyển độc lập với không gian rộng lớn. Vì thế, việc cứu hộ, cứu nạn là cực kỳ khó khăn. Mặt khác, với sự hiện đại và tân tiến ngày nay từ cả đội tàu đến giá trị hàng hóa, mỗi một rủi ro đều có thể dẫn đến tổn thất khôn lường. Bốn là, khó khăn vì phải đối mặt với nhiều nền pháp lý khác nhau.
Vận tải viễn dương luôn có tuyến vận chuyển dài nên các tàu thường phải đi qua những vùng biển, các bến cảng của những quốc gia khác nhau, vì thế phải chịu ảnh hưởng vầ giới hạn của các chính sách pháp luật từ các quốc gia đó, đặc biệt là tại những quốc gia đang có những căng thẳng chính trị, xung đột leo thang,… 1. Vai trò của dịch vụ vận tải biển - Là yếu tố không tách rời ngành vận tải, hỗ trợ cho vận tải phát triển: Vận tải biển giữ vai trò quyết định giúp buôn bán quốc tế phát triển. Vận tải biển phát triển làm thay đối cơ cấu hàng hoá trên thị trường quốc tế, cải thiện cán cân thanh toán của quốc gia. Hàng năm, hơn 80% hàng hoá xuất nhập khNu của thế giới được vận chuyển bằng đường biển.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá là xu thế tất yếu thì hoạt động vận tải SVTH: Thái Thị Thu 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan biển càng không thể thiếu đối với xuất nhập khNu và phát triển kinh tế đất nước. Chất lượng hoạt động vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng dịch vụ vận tải được cung cấp. Dịch vụ có chất lượng tốt góp phần làm tăng khối lượng hàng hoá vận chuyển, phát triển hoạt động kinh doanh.
Dịch vụ vận tải biển và hoạt động kinh doanh vận tải biển có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ nhau cùng phát triển. - Đối với doanh nghiệp: Vai trò to lớn của dịch vụ vận tải biển đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp XN K nói riêng rất rõ ràng. Phát triển dịch vụ vận tải biển sẽ làm giảm chi phí vận tải, dẫn đến giá cả hàng hoá giảm, cho nên năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới sẽ được củng cố. Vì vậy ngày nay dịch vụ logistics được đề cập tới rất nhiều dưới góc độ áp dụng logistics thì sẽ góp phần làm cho giá thành hàng hoá giảm.
- Đối với nền kinh tế: Dịch vụ vận tải phát triển đồng nghĩa với các ngành khác cũng phải phát triển theo như sản xuất, công nghiệp.và cuối cùng kim ngạch xuất nhập khNu của quốc gia cũng tăng theo. Một nghiên cứu của trường Đại học Quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động vận tải biển đã chiếm từ 10 – 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế châu Á- Thái Bình Dương, đặc biệt với những nước có ngành vận tải biển phát triển như Singapore thì con số này có thể lên đến 20%. Dịch vụ vận tải phát triển sẽ thu hút rất nhiều lao động, từ lao động thủ công đến lao động tay nghề cao. Cùng với sự lớn mạnh không ngừng của khối dịch vụ hàng hải, công việc được tạo ra ngày càng nhiều, góp phần giải quyết vấn đề việc làm với mức lương ngày càng được cải thiện.
- Tạo nguồn thu cho ngân sách +hà nước: Doanh thu từ các dịch vụ vận tải, đặc biệt là vận tải biển đóng góp không nhỏ cho ngân sách quốc gia thông qua thuế, các khoản phí, lệ phí khác mà các doanh nghiệp kinh doanh có nghĩa vụ đóng góp cho N hà nước. N goài ra, đối tượng phục vụ của các dịch vụ vận tải còn là các thể nhân có yếu tố nước ngoài nên hàng năm ngành dịch vụ vận tải thu về một lượng ngoại tệ không nhỏ. Chỉ riêng dịch vụ vận tải biển, theo báo cáo của Cục hàng hải Việt N am, tỷ lệ lợi nhuận trên nguyên giá tài sản cố định của khối dịch vụ hỗ trợ vận tải biển là 20%, trong khi đó tỷ lệ này của khối vận tải biển là 8,99%. SVTH: Thái Thị Thu 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hồ Thị Hương Lan - Góp phần thúc đAy hội nhập quốc tế: Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của mọi nền kinh tế ngày nay. N gành vận tải biển góp phần không nhỏ trong việc thúc đNy sự hội nhập đó.