Chương 1: Tổng quan Marketing dịch vụ và thị trường vận tải biển. - Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing dịch vụ vận tải biển tại Công ty cổ phần Portserco. - Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách Marketing dịch vụ vận tải biển tại Công ty cổ phần Portserco. Tổng quan tài liệu Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã có tìm đọc và tham khảo một số tài liệu sau đây: - “Marketing căn bản” của Kotler P.
(2000), NXB Thống kê, Hà Nội - “Quản trị Marketing dịch vụ” của TS. Nguyễn Thượng Thái cung cấp những kiến thức cơ bản về Marketing dịch vụ. Trên cơ sở đó nắm được kiến thức chung về Marketing căn bản, đặc thù riêng của lĩnh vực dịch vụ. - Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực để đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một các hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trị tăng cao.
(Theo cuốn “Quản trị marketing” của PGS.TS Lê Thế Giới, TS. 4 - Trong hệ thống chiến lược của công ty thì hoàn thiện chính sách marketing là chiến lược có tác động mạnh mẽ nhất đến hiệu quả và cấu trúc của doanh nghiệp. Thông qua chính sách marketing công ty giành được vị thế nhờ phối trí các hoạt động định giá, xúc tiến, quảng cáo, thiết kế sản phẩm và phân phối. Chiến lược marketing mix phải được bắt đầu bằng việc nghiên cứu thâm nhập thị trường, vạch ra những phân khúc thị trường khác nhau với những khách hàng có đặc điểm nhu cầu khác nhau từ đó đánh giá mức độ hấp dẫn của các phân đoạn.
Công ty phải lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn những phân khúc mà công ty có thể đáp ứng khách hàng tốt nhất để không ngừng gia tăng giá trị mang lại cho khách hàng.Đây là một trong những chiến lược chức năng nhằm thực hiện chiến lược của công ty và của đơn vị kinh doanh (Theo cuốn Quản trị chiến lược của PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Thanh Liêm, ThS. Trần Hữu Hải, 2007). - Dưới sự tác động của sự phát triển thị trường tài chính và các công cụ tài chính, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự thay đổi bản chất của cạnh tranh và hợp tác, sự thay đổi nhanh chóng của môi trường và môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, tư duy marketing đã chuyển dịch sang marketing định hướng giá trị.
Các nổ lực marketing phải hướng đến việc chuyển giao nhiều hơn giá trị cho khách hàng và xây dựng giá trị cho các cổ đông/ chủ sở hữu doanh nghiệp ( PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lãn, ThS. Võ Quang Trí, ThS. Đinh Thị Lệ Trâm, ThS.
Phạm Ngọc Ái, “Quản trị marketing định hướng giá trị”, 2011) - Bài viết: “Vận tải biển hôm nay và ngày mai” – Đỗ Thái Bình – Nxb Giao thong vận tải. Công trình phân tích sự phát triển của vận tải và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. Mặc dù các hình thức vận tải khác đang không ngừng phát triển nhưng trong tương lai, vận tải biển là ngành chủ chốt bởi hiệu ứng kinh tế của nó. 5 - Cao Ngọc Thành (2010) Viện nghiên cứu phát triển TP.
HCM, Phát triển vận tải biển Việt Nam tới năm 2020 và tầm nhìn mới 2030. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hằng năm 2011 về “Ngành vận tải biển Việt Nam. Thực trạng và giải pháp phát triển” – Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Sĩ Lâm. + Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về ngành vận tải biển Việt Nam.
Làm rõ vai trò vận tải biển trong thương mại quốc tế cũng như làm rõ các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến vận tải biển. + Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản thực trạng vận tải biển Việt Nam. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm phát triển vận tải biển Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN MARKETING DỊCH VỤ VÀ THỊ TRƢỜNG VẬN TẢI BIỂN 1.
DỊCH VỤ VÀ ĐẶC THÙ DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN 1. Dịch vụ Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các yếu tố vô hình, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Dịch vụ ở đây chính là sản phẩm tiêu thụ của khách hàng và là sản phẩm cung ứng của các hãng vận tải. Do đó, dịch vụ cần được thiết kế cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy rằng dịch vụ phải gắn liền với hoạt động tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không phải hàng hóa hữu hình, chúng tồn tại dưới dạng hiện vật. Dịch vụ là một quá trình hoạt động, quá trình đó diễn ra theo trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau, mỗi khâu là những dịch vụ nhánh hay dịch vụ độc lập và dịch vụ chính.
Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ. Giá trị này thõa mãn giá trị mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ. Những giá trị của hệ thống dịch vụ được gọi là chuỗi giá trị.
Chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng thể cho người tiêu dùng. Sản phẩm dịch vụ Trong thực tế khách hàng không mua sản phẩm hoặc dịch vụ mà họ mua một lợi ích nào đó. Lợi ích này nhận được thông qua việc sử dụng hàng 7 hóa hoặc dịch vụ. Từ đó, sản phẩm được chia thành bốn cấp độ như sau: - Sản phẩm cốt lõi.
- Sản phẩm mong muốn. - Sản phẩm tăng thêm. - Sản phẩm tiềm năng. Với những đặc trưng rất riêng biệt, dịch vụ là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố hiện hữu, tạo ra những chuỗi giá trị mang lại lợi ích tổng thể.
Do đó, dịch vụ thường được phân ra làm hai mục riêng biệt là dịch vụ cốt lõi và dịch vụ bao quanh. Dịch vụ bao quanh Dịch vụ cốt lõi Hình 1.1: Thực thể dịch vụ Dịch vụ cốt lõi là dịch vụ cơ bản, dịch vụ chủ yếu mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường nó thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định vì nó mang lại một giá trị cụ thể. Dịch vụ cố lõi quyết định bản chất của dịch vụ, do đó nó sẽ quy định dịch vụ loại này chứ không phải dịch vụ loại khác. Dịch vụ cốt lõi gắn liền với hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụ và lõi kỹ thuật của dịch vụ.
Dịch vụ bao gồm những dịch vụ phụ, thứ sinh. Nó tạo ra những giá trị phụ thêm cho khách hàng, giúp khách hàng có cảm nhận tốt hơn về dịch vụ cốt lõi. 8 Dịch vụ cốt lõi và dịch vụ bao quanh là những dịch vụ riêng biệt trong cùng một hệ thống để tạo ra dịch vụ tổng thể. Thông thường các doanh nghiệp phải bỏ ra một chi phí lớn để tạo ra một dịch vụ cốt lõi khoảng 70% nhưng tác động tới khách hàng hiệu quả lại không cao.
Ngược lại, chi phí để tạo ra dịch vụ bao quanh nhỏ chỉ 30% song gây ảnh hưởng rất lớn khách hàng. Như vậy sản phẩm dịch vụ chính là các bộ phận cấu thành của quá trình dịch vụ. Chúng có những cấu trúc riêng và cung cấp giá trị cho người tiêu dùng. Hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ Mỗi tổ chức dịch vụ đều có một hệ thống tổ chức sản xuất cung ứng dịch vụ của mình.
Hệ thống này gắn liền với thiết kế, ý tưởng, chất lượng dịch vụ của tổ chức và mức độ dịch vụ cung ứng cho khách hàng. Hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố vật chất và con người được tổ chức chặt chẽ theo một hệ thống phối hợp hướng tới khách hàng nhằm đảm bảo quy trình sản xuất và tiêu dùng có hiệu quả.2: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống sản xuất cung ứng dịch vụ 9 Từ mô hình trên ta có những nhận xét: Hệ thống bao gồm những yếu tố vật chất có thể xác định. Các yếu tố có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Một sự thay đổi của một yếu tố dẫn tới thay đổi những mối quan hệ trong hệ thống.
Hệ thống là quá trình hoạt động có định hướng, sự vận động của quá trình để đạt tới sự cân bằng nhất định. Hệ thống bao gồm các yếu tố hữu hình và yếu tố vô hình, các yếu tố vật chất và tâm lý tình cảm, yếu tố tinh thần đan quyện vào nhau. Các yếu tố tạo nên hệ thống bao gồm: + Khách hàng: người tiêu dùng dịch vụ, không có khách hàng thì không có dịch vụ. Khách hàng gắn liền với hệ thống và trở thành một yếu tố quan trọng của hệ thống + Cơ sở vật chất: cần thiết cho việc sản xuất, cung ứng dịch vụ như các thiết bị máy móc, nhà xưởng… + Môi trường vật chất: bao gồm các yếu tố vật chất xung quanh nơi diễn ra hoạt động dịch vụ.
Môi trường vật chất bao gồm cả hệ thống cơ sở vật chất trực tiếp tác động vào dịch vụ và những dấu hiệu vật chất khác do yêu cầu của việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ. + Người cung ứng dịch vụ: bao gồm toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp dịch vụ. Ở đây được phân chia như sau: Những nhiệm vụ giao tiếp dịch vụ, nhân viên dịch vụ cấp dưới và nhân viên cao cấp. Nhân viên giao tiếp và nhân viên dịch vụ cấp dưới đều trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Họ hoạt động ở ngoại vi của doanh nghiệp dịch vụ và tạo nên những quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng do vậy được gọi là liên kết biên nối doanh nghiệp với môi trường bên ngoài. + Dịch vụ: là những mục tiêu và kết quả của hệ thống. Dịch vụ được quyết định bởi kịch bản dịch vụ và cấu trúc dịch vụ. 10 + Hệ thống tổ chức nội bộ: bao gồm các quan hệ và hoạt động nội bộ, giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ.
Hệ thống này sử dụng phương tiện vật chất hoặc hình thức vật chất tác động vào hệ thống. Song không để lại các bằng chứng hữu hình.