CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Theo Benton, E. (2005) thì lại định nghĩa tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền khách hàng gửi tại ngân hàng nhằm nhận được một mức lãi suất cố định trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo tác giả Bùi Diệu Anh (2013), tiền gửi tiết kiệm được xem là loại tiền gửi phi giao dịch, cá nhân khi gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn và hưởng lãi định kỳ với mức lãi suất được thỏa thuận trước cho tài sản. Tác giả Nguyễn Văn Tiến (2013) cho rằng tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà một cá nhân thực hiện gửi vào tài khoản tiết kiệm của họ và được xác thực trên sổ tiết kiệm, số tiền này sẽ được hưởng lãi tùy theo mức lãi suất công bố của tổ chức mà khách hàng gửi tiền và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Tại Khoản 1 Điều 6 trong Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN Quy chế về tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước ban hành thì: tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được cá nhân gửi vào tài khoản tiết kiệm và được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, khoản lãi mà cá nhân được hưởng sẽ căn cứ vào quy định của tổ chức nhận khoản tiền gửi, khoản tiền gửi cũng sẽ được bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Theo Thông tư số 48/2018/TT-NHNN Quy định về tiền gửi tiết kiệm định nghĩa tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được hoàn trả đầy đủ tiền gốc và tiền lãi với mức lãi được thỏa thuận trước với tổ chức tín dụng mà người gửi tiền đã gửi.
Từ các cơ sở lý thuyết trên, có thể thấy TGTK của KHCN cũng được xem là một cách thức khác của sự đầu tư, đây được xem là khoản tiền mà các cá nhân trong nền kinh tế gửi vào một ngân hàng bất kỳ trong một khoảng thời gian xác định tuân 9 thủ theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ gốc và lãi, được xác nhận trên sổ tiết kiệm. Mục đích gửi tiền là sinh lời với mức lãi suất được thỏa thuận trước với ngân hàng và được bảo hiểm theo quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Đúc kết lại, TGTK có các đặc điểm điển hình như sau: Khách hàng gửi tiền với mục đích sinh lời và đảm bảo an toàn cho tài sản; Đây là khoản tiền có thời gian cụ thể, tức là kỳ hạn gửi tiền sẽ được khách hàng chọn và thỏa thuận với ngân hàng mà họ gửi tiền, khi đến hạn khách hàng sẽ nhận được khoản tiền gốc và lãi hoặc khách hàng có thể chọn loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn để dễ dàng điều chỉnh theo nhu cầu sử dụng; Mức lãi suất của TGTK sẽ được thỏa thuận trước giữa khách hàng và tổ chức nhận tiền gửi, thông thường mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn sẽ thấp hơn mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn; Phía ngân hàng sẽ theo dõi và quản lý số tiền, lãi suất, kỳ hạn TGTK của khách hàng thông qua các loại giấy tờ chứng nhận quyền sỡ hữu bao gồm sổ/thẻ tiết kiệm; TGTK ngoài khả năng sinh lời còn có tính ổn định, an toàn khi người gửi hoàn toàn có thể biết trước được khoản tiền lãi mình sẽ nhận, khoản tiền gửi này sẽ được cam kết an toàn trong ngân hàng và khi khách hàng có nhu cầu rút gấp, họ có thể rút song sẽ mất mức lãi suất được hưởng của kỳ hạn đó; Đối với ngân hàng thương mại đây là khoản tiền phải dữ trữ bắt buộc và mua bảo hiểm theo quy định của Nhà nước (Hương, 2012). Phân loại tiền gửi tiết kiệm 1.
Theo kỳ hạn TGKT phân loại theo kỳ hạn sẽ gồm hai loại : TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi dành cho KH chưa có kế hoạch sử dụng trong thời gian gần hay không xác định cụ thể được thời gian đáo hạn, KH gửi vào vì mục tiêu an toàn là chính. Người gửi có thể rút tiền mọi lúc mà không có nghĩa vụ phải báo trước với NH. Lãi suất của loại tiền gửi tiết kiệm này thường được căn cứ vào số ngày thực gửi và NHTM thường trả một khoản lãi rất thấp cho loại tiền gửi này.
10 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dành cho cá nhân muốn gửi tiền vào với mục đích an toàn và sinh lợi cho tài sản. Đây là loại tiền gửi có xác định kỳ hạn rõ ràng và KH chỉ có thể được rút sau một kỳ hạn đã được cam kết trước đó, nếu rút trước hạn sẽ phải chịu mất lãi hoặc chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn. Lãi suất của sản phẩm này sẽ căn cứ vào kỳ hạn gửi tiền, theo từng loại đồng tiền hay theo uy tín và rủi ro của NH mà KH chọn gửi. TGTK có kỳ hạn gồm tiền gửi kỳ hạn ngắn và tiền gửi kỳ hạn dài : - Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn : gồm tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng và kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng.
Ở mức kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng thường được khách hàng lựa chọn nhiều bởi mức lãi suất hấp dẫn và thời gian xoay vòng vốn không quá dài, phù hợp với các đối tượng khách hàng có số tiền nhàn rỗi không có nhu cầu sử dụng ngay. Bên cạnh đó, mức lãi suất trần áp dụng cho kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng vừa qua đã có sự điều chỉnh giảm xuống còn 4,75%/năm (Quyết định 1124/QĐ-NHNN năm 2023). Mức lãi suất tiền gửi trung bình của các NHTM trong nước ở kỳ hạn 1 đến dưới 6 tháng là 5,5% - 5,8%/năm và kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 7,0% - 8,7%/năm (Lan, 2023). - Tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn: là tiền gửi có mức kỳ hạn trên 12 tháng.
Trong thời điểm mặt bằng lãi suất hiện tại được dự báo là sẽ có xu hướng giảm và ổn định trong thời gian tới thì khách hàng có tiền nhàn rỗi thường được khuyến khích gửi tiền tại kỳ hạn này do được áp dụng mức lãi suất cao nhất. Cụ thể, mức lãi suất trung bình của các NHTM trong nước với kỳ hạn trên 12 tháng đến 24 tháng là 6,7 – 7,9%/năm, và kỳ hạn trên 24 tháng là 7,1 – 8,1%/năm (Lan, 2023). Theo loại tiền Ngoài việc phân loại theo kỳ hạn, các NHTM còn thực hiện huy động tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền tệ, cụ thể là tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ và tiền gửi tiết kiệm bằng đồng ngoại tệ như EUR, USD… 11 - Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người cư trú và là công dân Việt Nam sẽ được thỏa thuận và hoàn trả tiền gốc và lãi đầy đủ vào tài khoản thanh toán bằng đồng Việt Nam của chính cá nhân gửi tiền. (tại Điều 10 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN) - Tiền gửi tiết kiệm bằng đồng ngoại tệ của người cư trú và là công dân Việt Nam sẽ được thỏa thuận và hoàn trả tiền gốc và lãi đầy đủ vào tài khoản thanh toán bằng đồng ngoại tệ của chính cá nhân gửi tiền.
(tại Điều 10 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN) Các cá nhân, hộ gia đình khi tiến hành gửi tiền tiết kiệm bằng đồng nội tệ hay ngoại tệ thì khi nhận lại tiền tiết kiệm, các cá nhân hay hộ gia đình sẽ được nhận bằng chính loại đồng tiền đã gửi. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Nguồn vốn chính là tiền đề để các NH cũng như những tổ chức khác tiến hành và duy trì các hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn từ TGTK là một trong những nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn. Không chỉ có vai trò quan trọng đối với bản thân NH mà nó còn thúc đẩy quá trình tích tụ vốn và tái đầu tư vào các hoạt động tài chính và sản xuất, từ đó tạo công ăn việc làm và kích thích tăng trưởng kinh tế.
Cụ thể, TGTK có những vai trò trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của NH như sau : Thứ nhất, khả năng huy động TGTK xác định quy mô hoạt động của NH, bởi lẽ TGTK đóng góp tỷ trọng lớn và ngày càng tăng trên tổng vốn huy động. Nguồn vốn huy động là nền tảng và quyết định đến sự tồn tại, phát triển của NHTM. Đây cũng là cơ sở tạo ra nguồn lợi nhuận, từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững của NHTM. Vì vậy cần chú trọng công tác huy động vốn nói chung và huy động vốn tiết kiệm nói riêng trong mọi thời điểm nhằm mở rộng quy mô hoạt động cho NH (Khá, 2013).
Thứ hai, TGTK ảnh hưởng rất lớn trong việc quyết định khả năng tín dụng cũng như các hoạt động kinh doanh khác. Bởi lẽ, một NH có nguồn TGTK dồi dào, tức có quy mô huy động vốn lớn, từ đó khả năng cấp tín dụng càng cao, thị trường tín dụng 12 dễ dàng mở rộng hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ khác cũng như đảm bảo khả năng thanh toán của NH (Khá, 2013). Thứ ba, TGTK góp phần đánh giá được năng lực thanh toán để từ đó đảng bảo được sự tín nhiệm của NH. Thông thường khả năng thanh toán thường sẽ cùng chiều với quy mô vốn của NH.
Một NH với nguồn vốn dồi dào, đặc biệt với khoản TGTK lớn, tức nguồn vốn khả dụng cao, thì sẽ có khả năng sẵn sàng thanh toán và chi trả cho KH cao, đây cũng là thước đo đo lường được độ uy tín của NH, từ đó hấp dẫn được nhiều KH hơn và nâng cao được thương hiệu của NH trên thị trường (Hương, 2012). Thứ tư, khả năng huy động TGTK tốt giúp tăng năng lực cạnh tranh của NH trên thị trường. Như đã nói nguồn vốn ảnh hưởng đến việc xác định khối lượng tín dụng sẽ được thu hẹp hay mở rộng, từ đó nó còn quyết định đến mức lãi suất cho vay. Vì vậy, khi NH có tiềm lực lớn về nguồn vốn, đặc biệt là TGTK, sẽ có thể giảm mức lãi suất cho vay, từ đó tạo nên lợi thế trong việc cạnh tranh với các NH khác trên thị trường (Khá, 2013).
Các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân Có thể thấy trong bối cảnh hiện nay thì việc phát triển chất lượng dịch vụ nói chung là vấn đề mà các nhà quản trị luôn đề cao quan tâm.