CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THẺ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẻ ngân hàng 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ ngân hàng trên thế giới Về mặt lịch sử, thẻ ngân hàng xuất hiện đầu tiên năm 1945 mang tên Charge-It của ngân hàng John Biggins (Mỹ). Nó cho phép khách hàng dùng thẻ để mua hàng tại những nơi bán lẻ. Còn các nhà kinh doanh phải ký quỹ tại ngân hàng Biggins và ngân hàng sẽ thu tiền thanh toán từ phía khách hàng để hoàn trả cho nhà kinh doanh.
Tuy nhiên loại thẻ này chỉ được sử dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng. Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một người đàn ông tên Frank McNamara sau bữa tối đi ăn không mang tiền, đã nghĩ ra một cách thanh toán không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng.
Chỉ trong năm đầu tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. 9 năm sau đó, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng thẻ trên thế giới. Công ty này nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ ghi nợ (debit) vào năm 1975.
Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của Bank of America, 14 ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế ( Interbank Card Association- ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge. Họ cùng nhau thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia và có nhiệm vụ phát triển hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Cũng trong năm này, chiếc thẻ ghi nợ (debit) đầu tiên xuất hiện trên thị trường ngân hàng Mỹ, do Ngân hàng Delaware phát hành. Đến những năm 1970, có nhiều ngân hàng cũng đưa ra ý tưởng tương tự.
Bên cạnh những thuận lợi thì trong lịch sử phát triển của lĩnh vực thẻ cũng đã chứng kiến những khó khăn nhất định. Điển hình phải kể đến sự kiện vào mùa giáng sinh năm 1966 do bất cẩn trong sổ sách, các ngân hàng Chicago đã gửi thẻ tín dụng tràn lan cho các gia đình, ngay cả người chết và trẻ sơ sinh cũng được gửi. Nhiều người đã sử dụng hoặc bán lại các loại chỉ có người có tên trên thẻ tín dụng mới là người chịu trách nhiệm. Vụ việc này đã buộc chính phủ phải chấn chỉnh ngành kinh doanh mới mẻ này.
Sau đó luật pháp bắt đầu quy định ngày càng chặt chẽ hơn trong vấn đề thẻ. Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận là vào năm 1990 khi VCB kí hợp đồng làm đại lí chi trả thẻ VISA với ngân hàng Pháp BFCE và đây đã là bước khởi đầu cho dịch vụ này phát triển ở Việt Nam. Ngày nay, thẻ ngân hàng đã có mặt ở khắp nơi trên thế giới với những hình thức và chủng loại đa dạng, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của 2 tổ chức thẻ quốc tế là VISA và MASTER, một loạt các tổ chức thẻ mang tính quốc tế khác nối tiếp xuất hiện như: JCB, American Epress, Airplus, Maestro, Eurocard,… Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ.
Các ngân hàng và công ty tài chính luôn tìm cách cải thiện sao cho càng ngày thẻ càng dễ sử dụng và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho người tiêu dùng. Hiện nay, người sử dụng thẻ có thể sử dụng thẻ trên hầu hết các nước trên thế giới, họ không còn lo việc chuyển đổi sang đồng tiền nội địa khi đi ra nước ngoài. Thẻ dần dần được xem là công cụ văn minh thuận lợi trong các cuộc giao dịch mua bán.2 Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do các tổ chức tài chính, tín dụng phát hành và cung cấp cho khách hàng. Khách hàng có thể dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ (NHPH) và chủ thẻ.
Hóa đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT), ĐVCNT và đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ đòi tiền chủ thẻ thông qua NHPH và NHTT thẻ. Thị trường thẻ trên thế giới hiện nay đang lưu hành rất nhiều loại thẻ ngân hàng. Đứng trên các giác độ khác nhau thì thẻ được phân chia thành các loại khác nhau.1 Phân loại theo đặc tính kỹ thuật - Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc chữ in nổi toàn bộ các thông tin cần thiết về chủ thẻ cũng như tài khoản. Ngày này, loại thẻ này không còn được sử dụng vi tính chất thô sơ, dễ bị làm giả.
- Thẻ băng từ (Magnetic Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính, những thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa trên bề mặt băng từ ở mặt sau của thẻ. Hiện nay thẻ này đang được sử dụng phổ biến. - Thẻ thông minh (Smart Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, trên thẻ có gắn một con chíp điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo. Vì vậy thẻ thông minh còn được gọi là thẻ Chíp.
Đây là thế hệ thẻ mới nhất, tân tiến nhất hiện nay với đội an toàn, bảo mật cao.2 Theo tính chất thanh toán - Thẻ ghi nợ ( Debit Card): là loại thẻ mà chủ thẻ chỉ được chi tiêu trong phạm vi số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình tại NHPH thẻ. Để sử dụng thẻ này, chủ thẻ phải có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Khi rút tiền tại máy ATM hay thanh toán tại các ĐVCNT, giá trị của những giao dịch này lập tức được trừ vào số dư tài khoản tiền gửi của chủ thẻ. Do đó chủ thẻ không phải mở tài khoản đảm bảo thanh toán mà sử dụng dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức thấu chi mà ngân hàng cho phép.
- Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Khi sử dụng thẻ này, chủ thẻ sẽ được cấp một hạn mức tín dụng nhất định để chi tiêu tại các ĐVCNT. Hạn mức tín dụng mà ngân hàng đưa ra căn cứ vào uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của khách hàng. Khả năng đảm bảo được xác định dựa trên tình hình thu nhập, tình hình chi tiêu, tài khoản đảm bảo, địa vị xã hội … của khách hàng.
Đây là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho người sử dụng có thể chi tiêu trước. trả tiền sau. Định kỳ chủ thẻ sẽ nhận được sao kê từ ngân hàng. Chủ thể sẽ phải thanh toán số tiền đã chi tiêu mà không phải trả lãi.
Tuy nhiên nếu thanh toán không đúng hạn, chủ thẻ sẽ phải chịu phí suất trả chậm và các chi phí khác. Sau khi thanh toán đủ số tiền phải trả, ngân hàng sẽ khôi phục hạn mức tín dụng cho. Điều này tạo nên tính tuần hoàn, đặc tính ưu việt của thẻ tín dụng. - Thẻ trả trước (Prepaid Card): là loại thẻ mới được phát triển trên thế giới, khách hàng không phải làm các thủ tục phát hành thẻ như: làm giấy yêu cầu phát hành thẻ, mở tài khoản hoặc chứng minh tài chính mà chỉ cần trả trước cho ngân hàng một số tiền và khách hàng sẽ được cấp cho thẻ có mệnh giá tương đương.
Thẻ trả trước được xem như một thẻ dự trữ giá trị tương tự như thẻ ghi nợ nhưng khác biệt ở chỗ thẻ trả trước sẽ không kết nối với tài khoản ngân hàng của người sử dụng, nên nếu không may, thông tin thẻ bị lộ, thiệt hại chỉ là số tiền có trong thẻ; còn tiền trong tài khoản ngân hàng vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng.3 Phân loại theo phạm vi lãnh thổ - Thẻ nội địa: là loại thẻ bị hạn chế sử dụng trong phạm vi một nước, các NHPH và các ĐVCNT này cũng được đặt trong nước, loại thẻ này cũng chỉ được lưu hành tại nước đó. - Thẻ quốc tế: được phát hành bời các ngân hàng trong nước và ngân hàng quốc tế, các tổ chức tài chính là thành viên của Hiệp hội thẻ quốc tế. Loại thẻ này có thể được sử dụng ở khắp nơi trên thế giới. Dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về dịch vụ thẻ Ngân hàng thương mại có hai hoạt động cơ bản đó là hoạt động kinh doanh và hoạt động dịch vụ. Trong đó, hoạt động kinh doanh là những hoạt động mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, qua đó làm tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu lãi từ chính các hoạt động kinh doanh đó. Như vậy hoạt động kinh doanh bao gồm : cho vay, đầu tư chứng khoán, đầu tư vào các doanh nghiệp,. Còn dịch vụ ngân hàng là những hoạt động mà một ngân hàng cung cấp nhằm thực hiện theo yêu cầu ủy thác của khách hàng.
Thông qua đó, ngân hàng có thể tăng thu nhập từ phí mà dịch vụ đó đem lại. Các dịch vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm: Bảo quản vật có giá, dịch vụ bảo lãnh, ủy thác và tư vấn, dịch vụ đại lý, dịch vụ thẻ,. Như vậy, theo quan điểm này, dịch vụ thẻ thanh toán cũng là một trong các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Dịch vụ thẻ là một loại hình dịch vụ thuộc nhóm các dịch vụ bán lẻ hay còn gọi là dịch vụ cá nhân của một ngân hàng hiện đại.
Đây là một dịch vụ trong đó ngân hàng sẽ cung cấp một công cụ thanh toán, thẻ thanh toán cho khách hàng để khách hàng sử dụng các tính năng tiện ích và dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp thông qua công cụ thanh toán này.