Chương 1: Giới thiệu về đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh 9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại các Ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Nguyễn Minh Kiều (2007) cho rằng: “Thanh toán không trực tiếp dùng tiền mặt mà dựa vào các chứng từ hợp pháp như giấy nhờ thu, ủy nhiệm chi, séc,… để trích chuyển vốn tiền tệ từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản đơn vị khác ở Ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt gắn với sự ra đời của đồng tiền ghi sổ”.
Huỳnh Thị Thanh Hảo (2011) chỉ ra: “Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức chi trả được thực hiện bằng cách trích một số tiền từ tài khoản người trả chuyển sang tài khoản người được hưởng. Các tài khoản này đều được mở tại ngân hàng”. Đặng Công Hoàn (2016) nêu định nghĩa của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt như sau: “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/ hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”. Từ những định nghĩa về thanh toán không dùng tiền mặt được nêu trên, có thể hiểu TTKDTM là một hoạt động không sử dụng tiền mặt, trong đó các Ngân hàng thương mại sẽ đóng vai trò trung gian thoả mãn nhu cầu thanh toán cá nhân của khách hàng bằng các hình thức thanh toán đa dạng, thu chi hộ, chuyển tiền,…từ người này sang người khác, từ đơn vị này sang đơn vị khác và ghi chép lại trong sổ sách.
Theo cơ quan quản lý tại Việt Nam, nghị định số 101/2012/NĐ-CP và thông tư 46/2014/NHNN quy định về dịch vụ TTKDTM: “Dịch vụ TTKDTM là dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hàng và một số dịch vụ khác thực hiện thanh toán không qua tài khoản ngân hàng”. Như vậy, dịch vụ TTKDTM là loại hình dịch vụ được các NHTM cung cấp cho khách hàng để thực hiện các mục đích thanh toán hàng hoá và dịch vụ thông 10 qua trích chuyển sổ sách, ghi chép của tài khoản mà khách hàng đã mở tại hệ thống của Ngân hàng mà không phải dùng đến tiền mặt. Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM là một dịch vụ thường có tại các Ngân hàng. Vì TTKDTM được xem như một loại hình dịch vụ nên nó mang đặc điểm và tính chất của dịch vụ, bao gồm tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời, tính không thể lưu giữ, và tính tài chính.
Bên cạnh những đặc điểm, tính chất thuộc dịch vụ, TTKDTM còn sở hữu những đặc điểm, tính chất của riêng bản thân nó, có thể kể đến như sau: Một là, theo Mai Văn Bạn (2009), “Sự vận động của tiền tệ độc lập với sự vận động của hàng hoá về thời gian lẫn không gian và không có sự ăn khớp với nhau”. Điều này không có nghĩa là tạo ra sự tách rời giữa tiền và hàng hoá, dẫn đến những gian lận, sự trì hoãn trong thanh toán mà cần phải hạn chế tối đa những vấn đề trong quá trình thực hiện TTKDTM. Hai là, theo Mai Văn Bạn (2009), trong TTKDTM, “tiền mặt không xuất hiện như là vật trung gian mà tồn tại dưới dạng tiền ghi sổ hay tiền tệ kế toán được ghi chép lại trong sổ sách kế toán, chứng từ”. Với đặc điểm này, yêu cầu các bên tham gia tham gia thanh toán phải mở tài khoản tiền gửi tại NHTM và có một số tiền nhất định để thực hiện các giao dịch thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn kiểm soát, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các giao dịch diễn ra của mỗi cá nhân, tổ chức, góp phần hỗ trợ các cơ quan nhà nước quản lý dòng tiền tệ. Ba là, trong TTKDTM, NHNN và NHTM đứng ra tổ chức và thực hiện hoạt động thanh toán, mang ý nghĩa tác động lớn đến sự phát triển hệ thống thanh toán của một quốc gia. theo Mai Văn Bạn (2009), “vai trò trung gian thuộc về Ngân hàng, nơi các khoản tiền gửi của khách hàng được quản lý và chỉ có Ngân hàng mới có quyền thực hiện trích chuyển tài khoản của các đơn vị, đây là một nghiệp vụ có tính đặc thù của ngành ngân hàng. Do đó, Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và cũng chính là trung tâm thanh toán của toàn xã hội”.
Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt Đối với mỗi quốc gia, TTKDTM là hình thức thanh toán chính yếu trong quá trình dịch chuyển của tiền tệ, vì thế, nó mang vai trò quan trọng với các chủ thể thanh toán, các trung gian thanh toán. Vai trò đối với nền kinh tế: TTKDTM đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia. Nguồn vốn là yếu tố cần thiết khi bất kì đơn vị kinh tế nào muốn tham gia vào thị trường. Nhà sản xuất hàng hoá nào cũng muốn mang lại lợi nhuận tối đa cho tổ chức của mình, với nguồn vốn không giới hạn và lãi suất thấp sẽ là điều kiện hoàn hảo.
Họ còn muốn sản phẩm của mình được tiêu thụ nhanh và thu được tiền ngay để sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo. Vì vậy, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trở thành một vấn đề quan trọng, nếu thúc đẩy được hoạt động thanh toán một cách nhanh chóng thì dòng tiền hoạt động tái đầu tư cho sản xuất sẽ đẩy mạnh, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nền kinh tế. Trong quá trình trao đổi mua bán, nếu các đơn vị sử dụng tiền mặt thì sẽ tồn tại sự tốn kém về chi phí lưu thông, chi phí in ấn, bảo quản, kiếm đếm. TTKDTM đã giảm đi tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông tiền tệ, giảm đi các hạn chế, rủi ro về an ninh, gia tăng sự thông suốt của hoạt động thanh toán, phát huy vai trò điều tiết ở hoạt động tài chính của Nhà nước, đồng thời kiểm soát sự lạm phát và nâng cao năng suất lao động.
TTKDTM được thực hiện dựa trên tiền trong tài khoản tại Ngân hàng, giúp tiết kiệm chi phí trong in ấn, phát hành, vận chuyển khối lượng tiền mặt, đồng thời nâng cao sự kiểm soát dòng tiền của NHNN, từ đó, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ, hạn chế gia tăng lạm phát, đem lại lợi ích về kinh tế cho xã hội một cách tốt nhất. Vai trò đối với Ngân hàng thƣơng mại: Khi thực hiện TTKDTM, các chủ thể thanh toán phải có số dư trong tài khoản được mở tại NHTM, đồng thời ngân hàng đã tăng nguồn vốn kinh doanh từ hoạt động mở, duy trì tài khoản của khách hàng. Ngân hàng đồng thời huy động được khối lượng nguồn vốn lớn từ tài khoản 12 tiền gửi thanh toán của khách hàng để thực hiện hoạt động cho vay có lãi suất để kích thích đầu tư kinh tế đất nước phát triển. Nó cũng là hoạt động giúp cho quy mô tín dụng của ngân hàng được mở rộng, qua đó việc kinh doanh của ngân hàng được đẩy mạnh và kiểm soát được rủi ro khi nắm được tình trạng kinh doanh của các tổ chức, cá nhân tham gia tín dụng.
Ngân hàng gia tăng được nguồn lợi nhuận đến từ sự chênh lệch lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tạo điều kiện gia tăng quy mô các dịch vụ đang có tại ngân hàng, tạo ra sự cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, đa dạng, tăng thu nhập và mở rộng quy mô kinh doanh, nguồn thu dồi dào tạo nên tính bền vững và ổn định trong kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động TTKDTM luôn có sự tham gia của NHTM nên việc không sử dụng tiền mặt giúp hoạt động lưu thông bút tệ được kiểm soát chặt chẽ, giúp ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền và cung ứng những nguồn lực mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Vai trò đối với khách hàng: Khi tham gia vào quá trình giao dịch thanh toán với ngân hàng, khách hàng bắt buộc phải có tài khoản tiền gửi thanh toán để thực hiện giao dịch. Khách hàng có thể sử dụng nguồn tiền bằng cách chuyển khoản hoặc rút tiền đơn giản hóa thủ tục hay giảm thời gian chờ tại để thực hiện tại quầy giao dịch của ngân hàng.Người giao dịch bất kể là các cá nhân hay tổ chức đều không cần phải mang một lượng tiền mặt lớn để thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ phát sinh, giảm phát sinh thất lạc khi lưu thông, trộm cắp, làm tiền giả,…Với cuộc cách mạng công nghệ thông tin hiện đại ngày nay, chỉ với các thiết bị di động thông minh, khách hàng không nhất thiết phải có sự hỗ trợ từ nhân viên ngân hàng để sử dụng các dịch vụ mà còn không bị giới hạn về không gian và thời gian.
Ngoài ra, khách hàng còn được hưởng tiền lãi và ưu đãi từ ngân hàng khi thực hiện mở tài khoản và duy trì số dư. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành 2. Thanh toán bằng séc Khái niệm: Theo Mai Văn Bạn (2009), “Séc (check, cheque) là một tờ mệnh 13 lệnh vô điều kiện về trả tiền do một khách hàng (chủ tài khoản của ngân hàng) ký phát ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người được chỉ định trên séc hoặc trả theo lệnh của người ký phát séc, hoặc trả cho người cầm séc”. Đặc điểm của séc là có thời hạn và không trao đổi.
Xuất trình séc trong 30 ngày sau ngày ký phát trên trang séc hoặc trong quãng thời gian sau ngày ký phát trên tờ séc có giá trị phải ký nhưng thời hạn không dưới 6 tháng tính theo ngày ký phát.