phần mở đầu, tác giả nêu lên tính cấp thiết của nghiên cứu, chỉ rõ các lý do vì sao đề tài này được chọn nghiên cứu. Cùng với đó là mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Ở các chương tiếp theo tác giả sẽ tiến hành phân tích dựa trên những tiền đề này. Lý thuyết về phí quản lý chung cư 1.
Khái niệm phí quản lý chung cư Theo Điều 31 Thông tư số 02/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng, phí quản lý chung cư hay phí quản lý vận hành chung cư là khoản chi phí ở chung cư mỗi tháng hoặc kỳ mà chủ sở hữu nhà, người thuê nhà phải đóng để ban quản trị tòa nhà chi trả cho các hoạt động vận hành nhà chung cư. Cách tính phí dịch vụ chung cư được quy định cụ thể tại Điều 30 Thông tư số 02/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng. Theo đó, giá dịch vụ chung cư được tính theo tiền Việt Nam đồng, bằng mức giá quy định nhân với diện tích sử dụng ghi trong sổ hồng. Mức phí QLCC hiện nay rất đa dạng, tùy thuộc vào thỏa thuận của ban quản lý tòa nhà với các chủ sở hữu nhà, người thuê nhà và được thể hiện bằng Hợp đồng dịch vụ QLCC.
Mẫu hợp đồng được ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT- BXD của Bộ Xây dựng. Căn hộ càng cao cấp thì phí dịch vụ càng cao. Phí dịch vụ ở các dự án căn hộ chung cư hiện nay dao động từ 3.000 đồng/m2/tháng. Chi phí QLCC cao tầng, QLCC cao cấp sẽ được quyết định bởi UBND tỉnh thành tại nơi có dự án chung cư đó.
Vì vậy, đối với mỗi địa phương khác nhau thì mức giá này cũng sẽ khác nhau. Ngoài ra, khung giá của phí QLCC còn có thể được sử dụng để điều chỉnh một số vấn đề như: - Được sử dụng làm cơ sở trong trường hợp các bên trong hợp đồng mua bán có tranh chấp hoặc để các bên thỏa thuận hợp đồng. - Khung giá của dịch vụ sẽ được áp dụng với những đối tượng: Cơ quan quản lý về nhà ở cấp thành phố, chủ đầu tư đầu tư dự án, ban quản lý, những người có liên quan đến việc sử dụng chung cư. 11 - Trong một số trường hợp, khung giá trên sẽ không được áp dụng, ví dụ như: Dự án chung cư cũ thuộc sở hữu của Nhà nước nhưng chưa được cải tạo, xây dựng lại, chung cư xã hội theo hình thức tập thể, đã có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được thông qua tại Hội nghị chung cư.
Vai trò phí quản lý chung cư Hiện nay, phí QLCC được quy định khá cụ thể tại Thông tư số 02/2016/TT- BXD của Bộ Xây dựng. Theo đó, loại phí này được dùng với những mục đích như: - Phí hoạt động vận hành, điều khiển các hệ thống, thiết bị trong tòa nhà như thang máy, hệ thống phòng cháy chữa cháy, máy phát điện, các thiết bị dự phòng… - Chi trả cho dịch vụ bảo vệ, đảm bảo an ninh khu nhà như lễ tân, ban quản lý, nhân viên bảo vệ. - Chi trả cho dịch vụ vệ sinh: lau dọn hành lang, thu gom rác thải, quét dọn nơi công cộng, diệt côn trùng… - Chi trả cho dịch vụ chăm sóc cảnh quan: chăm sóc cây xanh, vườn hoa, trang trí khu vực công cộng trong khu nhà. - Chi trả cho các khoản phí quản lý tòa nhà khác do bộ phận quản lý thực hiện.
Phân biệt phí quản lý chung cư và phí bảo trì chung cư Hai loại phí QLCC và phí bảo trì chung cư rất dễ nhầm lẫn với nhau. Giữa hai loại phí này có những khác biệt sau đây: Tiêu chí Phí quản lý chung cư Phí bảo trì chung cư Định nghĩa Là khoản chi phí để phục vụ Là khoản chi phí dùng để phục cho hoạt động quản lý, vận hành vụ cho công tác bảo dưỡng, bảo nhà chung cư. trì các phần sở hữu chung của nhà chung cư theo quy định về quản lý và sử dụng nhà chung cư. 12 Tiêu chí Phí quản lý chung cư Phí bảo trì chung cư Mục đích sử - Duy trì hoạt động của thiết bị Phục vụ cho công tác bảo dụng trong không gian chung của dường, bảo trì phần sở hữu chung cư như máy móc, thiết bị, chung theo quy định về quản lý các camera an ninh, thang máy, sử dụng nhà chung cư.
hành lang… - Trích cho việc phụ cấp trách nhiệm cho các thành viên trong nhân sự quản trị, quản lý tòa nhà. Mức đóng Thỏa thuận giữa ban quản lý, 2% giá trị hợp đồng mua nhà. góp chủ đầu tư cùng với cư dân, khách hàng trong tòa nhà, chung cư. Lý thuyết về thanh toán không dùng tiền mặt 1.
Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Hệ thống thanh toán có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của bất kỳ một đất nước nào. Nếu hệ thống TT không chạy đúng cách và có vấn đề, nó sẽ tác động đến sự ổn định đối với nền kinh tế quốc gia đó (Filona và Misdiyono, 2019). Phương tiện TT có thể được chia thành hai loại: bằng tiền mặt và KDTM. Trước khi xuất hiện internet, mọi người sử dụng các công cụ TT bằng tiền mặt thông qua sử dụng tiền vật chất dưới dạng tiền giấy và tiền xu (Jun et al.
Sau đó, khi có sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, mọi người bắt đầu dùng những công cụ TTKDTM thẻ TT hoặc dùng các ứng dụng TT của các thiết bị thông minh. Ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hệ thống TT cũng kích thích sự chuyển đổi của tiền để tạo ra các giao dịch hiệu quả. TTKDTM là một cộng đồng ngừng sử dụng trao đổi tiền mặt cho dịch vụ và hàng hóa bằng cách ủy quyền TT chuyển khoản kỹ 13 thuật số và TT phi kỹ thuật số (Tee và Ong, 2016). Cộng đồng này ưa thích sử dụng công nghệ để TT, nhằm cung cấp dịch vụ TT nhanh chóng, dễ dàng, tiện lợi và thiết thực.
Theo Roy và Sinha (2014), thanh toán điện tử là sử dụng nền tảng internet để TT cho một sản phẩm hoặc dịch vụ. Nói cách khác, TT điện tử được coi là bất kỳ hình thức chuyển tiền nào được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử (Kalakota, R. TT bằng hệ thống này được tiến hành qua internet, chuyển tiền điện tử, các hệ thống TT bù trừ liên ngân hàng và hệ thống trao đổi dữ liệu tài chính. TTKDTM là một hoạt động dịch vụ TT thông qua các công cụ/ phương thức TT để bù trừ tiền từ tài khoản/ hạn mức tiền của người trả tiền sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua nhà cung cấp dịch vụ TT (Đặng Công Hoàn, 2015).
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu TTKDTM là một hình thức vận động của tiền tệ. Trong TTKDTM, các NHTM là trung gian thực hiện yêu cầu thanh toán, thu hộ, chi hộ, chuyển tiền… của khách hàng bằng cách trích chuyển trên sổ sách, ghi chép chuyển tiền từ người này sang người khác không sử dụng đến tiền mặt nhằm thỏa mãn mục đích của họ. Dịch vụ TTKDTM bao gồm ba phương thức không tiếp xúc hàng đầu bao gồm: dịch vụ tin nhắn (SMS); công nghệ kết nối không dây tầm ngắn dùng cảm ứng từ trường để thực hiện kết nối những thiết bị khi có sự tiếp xúc trực tiếp (NFC); mã phản hồi nhanh (QR). Theo thời gian, TTKDTM (được gọi là TT điện tử) ngày càng trở nên nhanh chóng, thuận tiện, phù hợp với dòng chảy thị trường.
Người tiêu dùng ngày càng có xu hướng TT trực tuyến cho các dịch vụ giải trí, du lịch, hóa đơn (điện, nước…), mua sắm hàng gia dụng. Việc TT chủ yếu thông qua những thiết bị di động được kết nốt internet. Theo xu thế hiện nay thì TTKDTM cũng càng được chú trọng hơn. Người tham gia giao dịch có thể thực hiện chuyển tiền không những nhanh chóng, chính xác qua mạng internet mà còn dễ dàng theo dõi và kiểm soát tất cả các giao dịch bởi tất cả các giao dịch TTKDTM đều được lưu lại lịch sử 14 giao dịch và cho phép tra cứu lại các giao dịch đã thực hiện mọi lúc, mọi nơi và bởi bất kỳ ai đã đăng ký dịch vụ.
Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt TTKDTM có một số đặc điểm sau: + Trong TTKDTM tiền tệ và hàng hóa vận động độc lập nhau cả về thời gian lẫn không gian và thường không có sự ăn khớp nhau. + Trong TTKDTM, không xuất hiện vật trung gian trao đổi như trong hình thức TT truyền thống kiểu H-T-H mà chỉ dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán. + Trong TTKDTM, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm TT đối với các khách hàng của mình.
Lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt Từ những khái niệm ở trên, chúng ta thấy khi TTKDTM, người dùng thực hiện giao dịch thông qua các thiết bị điện tử như máy tính, ATM, POS, điện thoại thông minh. mà không phải đến quầy giao dịch, điều này tạo ra rất nhiều lợi ích cho cả hai phía ngân hàng và người dùng. Các lợi ích đó có thể kể đến như: + Giảm được chi phí, giảm bớt các thủ tục giấy tờ, giao dịch thuận lợi. + Khách hàng có thể giao dịch mọi lúc, mọi nơi.
Các bên có thể giao dịch mà không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. + Giao dịch nhanh hơn so với giao dịch truyền thống. + So với giao dịch bằng tiền mặt truyền thống, TTKDTM sẽ giảm thiểu rủi ro mang theo tiền mặt, giảm bớt được thời gian kiểm đếm, dễ dàng tra soát lịch sử. Các loại phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Theo Ngân hàng Nhà nước, có một số phương thức TTKDTM thường được sử dụng hiện nay bao gồm: - Thanh toán bằng thẻ tín dụng điện tử: Nếu xét trong lĩnh vực ngân hàng thì hệ thống TT trên thế giới đang ngày được hoàn thiện và đổi mới nhưng khi so sánh 15 với nhịp độ phát triển ngày càng cao của thương mại điện tử toàn cầu thì TT bằng thẻ tín dụng được xem là mặt ít phát triển nhất.
Các sản phẩm được mua bán qua mạng đều TT qua hình thức thẻ tín dụng cổ truyền. Hiện nay, thẻ tín dụng điện tử truyền thống và phổ biến nhất là Mastercard và Visacard… - Thanh toán bằng ATM: ATM là thiết bị ngân hàng giao dịch tự động với người dùng, nhận dạng khách hàng thông qua thẻ ghi nợ hoặc thẻ tín dụng giúp khách hàng truy vấn tài khoản, rút tiền mặt, chuyển khoản,.