Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong nền kinh tế số" của sinh viên Nguyễn Thị Thúy Hường (Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng; người hướng dẫn: TS. Trịnh Hồng Hạnh; bảo vệ năm 2021) xuất phát từ bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát từ tháng 12 năm 2019, tạo ra những biến động lớn trên quy mô toàn cầu nhưng đồng thời đóng vai trò chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số tại Việt Nam. Trong môi trường kinh tế số đang phát triển nhanh chóng, phương thức thanh toán bằng tiền mặt truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế như tốn kém chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm và làm chậm quá trình chu chuyển vốn của nền kinh tế. Mặc dù việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là xu thế tất yếu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm bảo đảm sự thông suốt cho các hoạt động kinh tế, mức độ phổ biến của TTKDTM tại Việt Nam trong giai đoạn này được tác giả đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.
Mục tiêu chung của đề tài là trên cơ sở đánh giá thực tiễn hoạt động TTKDTM tại Việt Nam trong nền kinh tế số, khái quát các kết quả đạt được, chỉ rõ hạn chế, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy TTKDTM phát triển. Về mục tiêu cụ thể, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về TTKDTM tại Việt Nam và ảnh hưởng của nền kinh tế số đến hoạt động này.
- Phân tích thực trạng TTKDTM tại Việt Nam trong nền kinh tế số giai đoạn 2016–2020.
- Đưa ra đánh giá về kết quả thực hiện, phân tích các hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện TTKDTM tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển TTKDTM tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Khóa luận giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- TTKDTM là gì?
- Thực trạng hoạt động TTKDTM tại Việt Nam như thế nào và hạn chế còn hiện hữu là gì?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thúc đẩy TTKDTM trong nền kinh tế số?
- Giải pháp để thúc đẩy TTKDTM trong nền kinh tế số là gì?
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung liên quan đến TTKDTM trong nền kinh tế số tại Việt Nam, giới hạn trong phạm vi thanh toán nội địa và không bao gồm thanh toán quốc tế. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát bối cảnh chung tại Việt Nam. Phạm vi thời gian tập trung vào việc xem xét thực trạng số liệu từ năm 2016 đến năm 2020, làm căn cứ đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm pháp lý và học thuật chuẩn tắc: khái niệm dịch vụ thanh toán và phương tiện thanh toán theo các văn bản của Chính phủ (2001); định nghĩa TTKDTM của Đặng Công Hoàn (2015); định nghĩa dịch vụ TTKDTM theo Nghị định số 101/2012/NĐ-CP; và định nghĩa kinh tế số theo các cấp độ phạm vi của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), G20 và Từ điển Oxford. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động TTKDTM được tác giả hệ thống hóa qua chuỗi văn bản quy phạm pháp luật: Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg; Nghị định số 101/2012/NĐ-CP; Nghị định số 80/2016/NĐ-CP; Thông tư số 46/2014/TT-NHNN; Thông tư số 39/2014/TT-NHNN; các Thông tư số 19/2016/TT-NHNN, 20/2016/TT-NHNN, 03/2016/TT-NHNN, 32/2016/TT-NHNN; Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển TTKDTM giai đoạn 2016–2020; Thông tư số 26/2017/TT-NHNN; Quyết định số 241/QĐ-TTg năm 2018; Quyết định số 1927/QĐ-NHNN năm 2018 công bố Bộ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa; Thông tư số 20/2018/TT-NHNN; Thông tư số 28/2019/TT-NHNN, Thông tư số 23/2019/TT-NHNN; và Quyết định số 149/QĐ-TTg năm 2020 về Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện.
Tác giả vận dụng các chỉ tiêu đánh giá định lượng về TTKDTM gồm:
- Chỉ tiêu quy mô: Tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán, trong đó tổng phương tiện thanh toán bằng tiền mặt trong lưu thông cộng tiền gửi của tổ chức và dân cư bằng VNĐ và ngoại tệ.
- Chỉ tiêu cơ cấu: Tỷ trọng giá trị thanh toán của từng phương tiện TTKDTM trên tổng số món TTKDTM.
- Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng (%): Tốc độ tăng trưởng về số lượng và giá trị qua các năm của mạng lưới ATM, POS, các phương tiện TTKDTM, các hệ thống thanh toán và các kênh thanh toán trực tuyến.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác số liệu thống kê công khai từ website của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết trên Thời báo Ngân hàng, Tạp chí Ngân hàng và Tin học Ngân hàng, cùng số liệu từ "Báo cáo kinh tế số Đông Nam Á (SEA) 2020" của Google, Temasek và Bain & Company.
- Phương pháp tổng hợp và phân loại số liệu: Xử lý và tính toán các chỉ tiêu bằng phần mềm Microsoft Excel, trình bày dưới dạng bảng biểu và đồ thị.
- Phương pháp so sánh: Sử dụng so sánh tuyệt đối nhằm chỉ ra mức độ tăng, giảm về số lượng và giá trị qua từng năm để tìm nguyên nhân biến động; sử dụng so sánh tương đối để xác định cơ cấu, tỷ trọng chiếm giữ của từng chỉ tiêu trong tổng thể.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế số
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về hoạt động TTKDTM và phân tích mối quan hệ tương tác với nền kinh tế số. Tác giả chỉ ra bản chất của TTKDTM là việc trích chuyển tiền trên tài khoản hoặc bù trừ qua ngân hàng mà không sử dụng trực tiếp tiền mặt, với hai chủ thể cốt lõi là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (hoặc trung gian thanh toán) và khách hàng. Hoạt động này mang 5 đặc điểm chính: tính vô hình (sử dụng đồng tiền ghi sổ), tính độc lập (sự vận động của hàng hóa và tiền tệ tách biệt về thời gian và không gian), sự bắt buộc của trung gian thanh toán, dòng thông tin hai chiều (cho phép ngân hàng thu thập dữ liệu phục vụ thẩm định tín dụng và quản trị) và tính đa dạng không ngừng phát triển.
Về phương tiện thanh toán, chương này phân tích khái niệm, quy trình và ưu nhược điểm của 5 công cụ: séc (gồm séc thanh toán, bảo chi, chuyển khoản); ủy nhiệm chi/lệnh chi; ủy nhiệm thu/nhờ thu; thẻ ngân hàng (thẻ tín dụng, ghi nợ, trả trước); và ví điện tử (yêu cầu tỷ lệ đảm bảo thanh toán 1:1 theo Thông tư số 39/2014/TT-NHNN). Về mặt hạ tầng, tác giả trình bày cơ chế vận hành của 4 hệ thống thanh toán chủ chốt:
- Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS): Gồm 1 Trung tâm Thanh toán Quốc gia (NPSC) tại Hà Nội, 6 Trung tâm xử lý khu vực (RPC) tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Sở Giao dịch NHNN; vận hành 3 tiểu hệ thống (thanh toán giá trị cao HVSS từ 500 triệu đồng trở lên, thanh toán giá trị thấp LVSS dưới 500 triệu đồng, và tiểu hệ thống quyết toán vốn).
- Hệ thống thanh toán bù trừ: Gồm bù trừ giấy (địa bàn cuối cùng tại Cần Thơ dừng ngày 12/5/2014) và bù trừ điện tử (triển khai từ tháng 5/2002, xử lý 2–3 phiên/ngày).
- Hệ thống do các NHTM vận hành: Nổi bật là hệ thống thanh toán đa tệ VCB-Money của Vietcombank và hệ thống thanh toán song phương của BIDV, Vietinbank, Agribank.
- Hệ thống viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế (SWIFT).
Chương 1 cũng phân tích 4 công nghệ cốt lõi thúc đẩy thanh toán trong nền kinh tế số gồm Open API/Open Banking, Big Data & Cloud Computing, AI & Data Analytics, cùng công nghệ nhận dạng sinh trắc học (Biometrics). Các điều kiện hạ tầng hỗ trợ bao gồm thử nghiệm mạng 5G từ năm 2019, chi phí Internet di động trung bình đạt 13,33 nghìn đồng/GB (0,57 USD/GB năm 2020 theo Cable), và mật độ 143 triệu thuê bao di động trên 96,96 triệu dân năm 2019. Cuối cùng, tác giả phân tích sự cần thiết của TTKDTM trên 3 khía cạnh (nền kinh tế, ngân hàng/trung gian thanh toán, khách hàng) và 6 nhóm nhân tố tác động: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, mạng lưới cung cấp dịch vụ, trình độ dân trí/thói quen và trình độ đạo đức của nhân viên ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong nền kinh tế số
Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về thực trạng phát triển kinh tế số và hoạt động TTKDTM tại Việt Nam giai đoạn 2016–2020 qua các số liệu thống kê chi tiết. Về bối cảnh kinh tế số, báo cáo của Google, Temasek và Bain & Company ghi nhận tổng giá trị hàng hóa giao dịch (GMV) của kinh tế số Việt Nam năm 2020 đạt 14 tỷ USD (tăng 16% so với 12 tỷ USD năm 2019 và tăng hơn 4,6 lần so với mức 3 tỷ USD năm 2015), xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á sau Indonesia và Thái Lan. Số lượng người dùng Internet tăng từ 44 triệu người (chiếm 45,4% dân số năm 2015) lên 79 triệu người (chiếm 81,52% dân số năm 2020), với thời gian trực tuyến bình quân 3,5 giờ/người/ngày. Đầu tư vào lĩnh vực Internet tăng trưởng 499%, từ 156 triệu USD năm 2016 lên 935 triệu USD năm 2019.
| Chỉ tiêu ngành kinh tế số Việt Nam |
Năm 2015 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Tăng trưởng 2020/2019 (%) |
Dự báo tăng trưởng 2025 (%) |
| Thương mại điện tử (GMV) |
0,4 tỷ USD |
4,8 tỷ USD |
7,0 tỷ USD |
+46% |
+34% |
| Vận tải và thực phẩm (GMV) |
0,2 tỷ USD |
1,1 tỷ USD |
1,6 tỷ USD |
+50% |
+34% |
| Phương tiện truyền thông trực tuyến (GMV) |
0,6 tỷ USD |
2,8 tỷ USD |
3,3 tỷ USD |
+18% |
+15% |
| Du lịch trực tuyến (GMV) |
Chưa thống kê |
4,0 tỷ USD |
3,0 tỷ USD |
-25% |
+25% |
Về thực trạng TTKDTM, khóa luận chỉ rõ tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán giảm chậm: từ mức ước tính 11,96% năm 2016 xuống 11,33% năm 2019 và đạt 11,05% vào năm 2020 (chỉ giảm 0,91% sau 5 năm). Đối với các phương tiện thanh toán cụ thể:
- Lệnh chi (ủy nhiệm chi): Chiếm tỷ trọng áp đảo về giá trị thanh toán. Năm 2020, số lượng giao dịch đạt 787,002 triệu món (tăng 1.113% so với năm 2016 và tăng 84% so với năm 2019); giá trị giao dịch đạt 37.465,1 nghìn tỷ đồng (tăng 212,16% so với năm 2016).
- Séc: Suy giảm liên tục cả về số lượng và giá trị. Đến năm 2020, số lượng giao dịch bằng séc chỉ còn 16 nghìn món; giá trị giao dịch giảm từ 87,9 nghìn tỷ đồng năm 2016 xuống còn 13,7 nghìn tỷ đồng năm 2020 (giảm 84%).
- Nhờ thu (ủy nhiệm thu): Ghi nhận biến động bất thường về số lượng vào năm 2017 (đạt 13,1 triệu món, giá trị 1.426,3 nghìn tỷ đồng), sau đó giảm về 2,05 triệu món năm 2018 và đạt 2,83 triệu món năm 2020 với giá trị 1.537,4 nghìn tỷ đồng.
- Thẻ ngân hàng: Giá trị giao dịch tăng 506,65% trong giai đoạn 2016–2020 (từ 127,6 nghìn tỷ đồng năm 2016 lên 294 nghìn tỷ đồng năm 2020). Số lượng tài khoản cá nhân tăng từ 68,7 triệu tài khoản (2016) lên 100,4 triệu tài khoản (2020, tăng 46,14%); số dư tài khoản tăng 164,39% (từ 252,2 nghìn tỷ đồng năm 2016 lên 666,8 nghìn tỷ đồng năm 2020). Tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng tăng từ 58,8% (2016) lên gần 70% (2020).
- Ví điện tử: Đạt mức tăng trưởng nhanh, đứng thứ 2 về số lượng giao dịch nhưng giá trị bình quân nhỏ; tổng giá trị giao dịch qua ví năm 2020 đạt 289,9 nghìn tỷ đồng (tăng 140,18% so với năm 2019).
| Phương tiện thanh toán |
Số lượng giao dịch năm 2020 |
Giá trị giao dịch năm 2020 |
Biến động giá trị so với 2016 / 2019 |
| Lệnh chi (Ủy nhiệm chi) |
787,002 triệu món |
37.465,1 nghìn tỷ đồng |
Tăng 212,16% so với 2016 |
| Thẻ ngân hàng |
> 23,33 triệu món (2016) |
294 nghìn tỷ đồng |
Tăng 506,65% so với 2016 |
| Ví điện tử |
Đứng thứ 2 toàn hệ thống |
289,9 nghìn tỷ đồng |
Tăng 140,18% so với 2019 |
| Nhờ thu (Ủy nhiệm thu) |
2,83 triệu món |
1.537,4 nghìn tỷ đồng |
Ổn định quanh mức 1.400 - 1.500 nghìn tỷ đồng |
| Séc |
16 nghìn món |
13,7 nghìn tỷ đồng |
Giảm 84% so với năm 2016 |
Về hạ tầng hệ thống, hệ thống IBPS tính đến năm 2020 đã kết nối toàn bộ chi nhánh NHNN tại 63 tỉnh, thành phố; xử lý bình quân 45–55 nghìn giao dịch/ngày với giá trị khoảng 50 nghìn tỷ đồng/ngày; thời điểm cao điểm đạt 74 nghìn lệnh với giá trị xấp xỉ 70 nghìn tỷ đồng/ngày; thời gian xử lý lệnh dưới 10 giây. Hệ thống thanh toán bù trừ tự động phục vụ các giao dịch bán lẻ (ACH) chính thức vận hành từ tháng 6 năm 2020 với khả năng hoạt động 24/7. Bên cạnh thành tựu, tác giả đánh giá hạn chế lớn nhất là thói quen sử dụng tiền mặt vẫn phổ biến, tốc độ giảm tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông còn rất chậm, hạ tầng thanh toán chưa đồng đều giữa thành thị và nông thôn, và khung pháp lý đối với các mô hình tài chính mới (Fintech Sandbox, Mobile Money) còn chậm hoàn thiện.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong nền kinh tế số
Dựa trên các hạn chế và nguyên nhân phân tích ở Chương 2, Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống 3 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ:
- Nhóm giải pháp từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý quản lý TTKDTM, giảm độ trễ chính sách; sớm ban hành Đề án cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech (Regulatory Sandbox) và quy định về tiền di động (Mobile Money); hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống bù trừ tự động ACH; tiếp tục triển khai Chiến lược tài chính toàn diện theo Quyết định 149/QĐ-TTg; đẩy mạnh bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực dịch vụ công (thuế, điện, nước, học phí, viện phí, an sinh xã hội theo Quyết định 241/QĐ-TTg); và tăng cường công tác thanh tra, giám sát an toàn hệ thống thanh toán theo Thông tư 20/2018/TT-NHNN.
- Nhóm giải pháp từ phía NHTM và các tổ chức trung gian thanh toán: Tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thẻ chip không tiếp xúc theo chuẩn EMV (thực hiện Quyết định 1927/QĐ-NHNN với tốc độ xử lý 150–200 ms); tối ưu hóa giao diện ứng dụng Mobile Banking và Internet Banking; mở rộng mạng lưới thiết bị chấp nhận thanh toán (POS, mPOS, QR Code); chủ động phối hợp xây dựng hệ sinh thái số liên kết giữa ngân hàng, trung gian thanh toán và doanh nghiệp bán lẻ; nâng cao năng lực bảo mật thông tin, phòng chống tội phạm công nghệ cao; đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ nhân viên.
- Nhóm giải pháp từ phía khách hàng (cá nhân và doanh nghiệp): Tăng cường tuyên truyền thay đổi thói quen dùng tiền mặt; nâng cao nhận thức và kỹ năng sử dụng các tiện ích thanh toán điện tử; tự trang bị kiến thức bảo mật dữ liệu cá nhân, nhận diện các phương thức lừa đảo giả mạo; đối với doanh nghiệp, chủ động tích hợp phần mềm kế toán, bán hàng với các cổng thanh toán ngân hàng nhằm minh bạch hóa dòng tiền.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp chuỗi số liệu thực chứng có giá trị về diễn biến thị trường thanh toán Việt Nam giai đoạn 2016–2020:
- Xác định mức suy giảm tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán từ 11,96% (2016) xuống 11,05% (2020).
- Ghi nhận sự bùng nổ của giao dịch qua Lệnh chi (đạt 787,002 triệu món với giá trị 37.465,1 nghìn tỷ đồng vào năm 2020) và thẻ ngân hàng (giá trị tăng 506,65%).
- Lượng hóa mức độ phổ cập tài chính với 100,4 triệu tài khoản cá nhân, tổng số dư 666,8 nghìn tỷ đồng, và tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản đạt gần 70% vào năm 2020.
- Xác định sự suy giảm mạnh mẽ của phương thức thanh toán bằng séc (giá trị giảm 84% trong 5 năm, chỉ còn 13,7 nghìn tỷ đồng năm 2020).
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả tự chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu của các công trình đi trước và định vị đóng góp của đề tài:
- Khắc phục tính cục bộ: Các nghiên cứu trước đây (như Bùi Thị Mỹ Huyền 2011, Lê Thị Biếc Linh 2010, Trần Hữu Bình 2014) chủ yếu tập trung vào phạm vi địa phương hẹp (TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) hoặc một chi nhánh ngân hàng cụ thể (Agribank Cao Lãnh). Đề tài này cung cấp cái nhìn tổng thể trên quy mô toàn quốc.
- Mở rộng chủ thể nghiên cứu: Nghiên cứu không coi TTKDTM là sản phẩm độc quyền của hệ thống NHTM mà mở rộng khảo sát vai trò của các tổ chức trung gian thanh toán độc lập được NHNN cấp phép (đặc biệt là sự trỗi dậy của ví điện tử).
- Cập nhật bối cảnh số hóa: Khóa luận đặt hoạt động thanh toán trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và kinh tế số, tích hợp các công nghệ mới (Open Banking, Biometrics, thẻ chip EMV không tiếp xúc, hệ thống ACH vận hành từ tháng 6/2020) thay vì chỉ phân tích các phương tiện truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được xác định rõ:
- Giới hạn về phạm vi nghiệp vụ: Đề tài chỉ giới hạn khảo sát các hoạt động TTKDTM trong nội địa Việt Nam, chủ động loại trừ mảng thanh toán quốc tế và hệ thống SWIFT ra khỏi phạm vi trọng tâm.
- Giới hạn về nguồn dữ liệu: Phân tích thực trạng hoàn toàn dựa trên dữ liệu thứ cấp được công bố bởi NHNN và các báo cáo ngành quốc tế; chưa thực hiện khảo sát định lượng sơ cấp trên mẫu khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp để kiểm định mô hình hành vi chấp nhận thanh toán.
- Giới hạn thời gian: Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở năm 2020, thời điểm nhiều chính sách công nghệ thanh toán mới (như cơ chế Sandbox cho Fintech, tiền di động Mobile Money, hệ thống bù trừ ACH) mới bắt đầu vận hành thử nghiệm hoặc đang trong giai đoạn soạn thảo văn bản.
Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo được gợi ý từ phạm vi đề tài bao gồm việc đánh giá định lượng tác động vận hành thực tế của hệ thống bù trừ tự động ACH trong bán lẻ sau năm 2020, nghiên cứu thực nghiệm mức độ tác động của cơ chế Sandbox và dịch vụ Mobile Money đối với việc gia tăng tiếp cận tài chính ở khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế số, Hệ thống thông tin quản lý và Quản trị kinh doanh khi tìm kiếm dữ liệu về thực trạng thanh toán điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2016–2020.
Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Bảng tổng hợp chi tiết hệ thống văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động thanh toán và dịch vụ trung gian thanh toán từ năm 2006 đến 2020.
- Các chỉ tiêu kỹ thuật và năng lực vận hành của hệ thống IBPS (HVSS, LVSS) và hệ thống bù trừ tự động ACH của NHNN.
- Dữ liệu đối chiếu cơ cấu giữa các phương tiện thanh toán (lệnh chi, séc, nhờ thu, thẻ, ví điện tử) trong giai đoạn chuyển dịch số hóa nền kinh tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Năng lực xử lý và cấu trúc mạng lưới của Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (IBPS) tại Việt Nam được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Hệ thống IBPS có mạng lưới gồm 1 Trung tâm Thanh toán Quốc gia (NPSC) đặt tại Hà Nội và 6 Trung tâm xử lý khu vực (RPC) tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Sở Giao dịch NHNN. Hệ thống gồm 3 tiểu hệ thống: HVSS (thanh toán giá trị cao từ 500 triệu đồng trở lên), LVSS (thanh toán giá trị thấp dưới 500 triệu đồng) và tiểu hệ thống quyết toán vốn. Đến năm 2020, IBPS đã kết nối toàn bộ chi nhánh NHNN tại 63 tỉnh, thành phố; thời gian xử lý lệnh không quá 10 giây; bình quân đạt 45–55 nghìn giao dịch/ngày (khoảng 50 nghìn tỷ đồng/ngày), cao điểm đạt 74 nghìn lệnh với giá trị xấp xỉ 70 nghìn tỷ đồng/ngày.
2. Tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán tại Việt Nam giai đoạn 2016–2020 biến động ra sao?
Tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán có tốc độ giảm rất chậm. Năm 2020, tỷ trọng này ở mức 11,05%, chỉ giảm 0,28% so với năm 2019 và giảm 0,91% so với năm 2016 (thời điểm ước tính khoảng 11,96%). Con số này cho thấy tiền mặt vẫn giữ vai trò đáng kể trong lưu thông.
3. Phương tiện TTKDTM nào chiếm tỷ trọng giá trị lớn nhất và phương tiện nào suy giảm mạnh nhất tại Việt Nam năm 2020?
Phương tiện chiếm tỷ trọng giá trị lớn nhất là Lệnh chi (ủy nhiệm chi), đạt 37.465,1 nghìn tỷ đồng năm 2020 (tăng 212,16% so với năm 2016) với 787,002 triệu món giao dịch. Ngược lại, Séc là phương tiện suy giảm mạnh nhất, giá trị giao dịch giảm 84% từ 87,9 nghìn tỷ đồng năm 2016 xuống chỉ còn 13,7 nghìn tỷ đồng năm 2020, với số lượng giao dịch chỉ còn 16 nghìn món.
4. Mốc thời gian chấm dứt hoạt động của hệ thống thanh toán bù trừ giấy tại Việt Nam được văn bản ghi nhận là khi nào?
Hệ thống thanh toán bù trừ giấy từng tồn tại song song với thanh toán bù trừ điện tử. Theo văn bản, đến ngày 12 tháng 5 năm 2014, địa bàn thanh toán bù trừ giấy cuối cùng tại Cần Thơ đã chính thức ngừng hoạt động, chuyển hoàn toàn sang bù trừ điện tử và sau này là hệ thống bù trừ tự động ACH (vận hành từ tháng 6 năm 2020).
5. Mức độ tiếp cận tài khoản thanh toán cá nhân của người dân Việt Nam đạt quy mô nào vào năm 2020?
Tính đến năm 2020, số lượng tài khoản thanh toán của cá nhân đạt 100,4 triệu tài khoản (tăng 46,14% so với mức 68,7 triệu năm 2016), với tổng số dư đạt 666,8 nghìn tỷ đồng (tăng 164,39% so với năm 2016). Tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng tăng từ 58,8% năm 2016 lên mức gần 70% vào năm 2020.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hường đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam trong giai đoạn 2016–2020 gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế số. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thứ cấp chi tiết về sự phân hóa giữa các phương tiện thanh toán truyền thống và hiện đại, đồng thời chỉ ra thực tế tỷ trọng tiền mặt lưu thông vẫn còn ở mức cao. Trên cơ sở nhận diện các rào cản về thói quen tiêu dùng và khuôn khổ pháp lý thử nghiệm, khóa luận đã đề xuất các nhóm giải pháp tương đối đồng bộ cho cơ quan quản lý nhà nước, các định chế tài chính trung gian và người sử dụng nhằm thúc đẩy tiến trình chuyển đổi sang thanh toán số tại Việt Nam.