CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG NỀN KINH TẾ SỐ 1. Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm, đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Khái niệm Thanh toán có thể hiểu là sự chuyển giao tài sản từ một cá nhân hoặc tổ chức cho cá nhân/ tổ chức khác khi thực hiện việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Dịch vụ thanh toán là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ thanh toán.
Phương tiện thanh toán là tiền mặt và các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt được sử dụng nhằm thực hiện những giao dịch thanh toán.” (Chính phủ, 2001) Thanh toán không dùng tiền mặt là “một hoạt động dịch vụ thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/ phương thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”.(Đặng Công Hoàn, 2015) Theo Nghị định 101/2012/NĐ-CP về Thanh toán không dùng tiền mặt thì khái niệm dịch vụ TTKDTM được hiểu là “bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng”. Từ những ý kiến trên, có thể hiểu rằng, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm hai chủ thể chính: Thứ nhất là tổ chức cung ứng dịch vụ TTKDTM bao gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các NH, chi nhánh NH nước ngoài, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô và một số tổ chức khác hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT không phải là ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT. 7 Thứ hai là khách hàng, khách hàng có thể là cá nhân hoặc tổ chức, có tài khoản thanh toán hoặc không có tài khoản thanh toán. Tóm lại TTKDTM là việc thực hiện chức năng thanh toán của tiền tệ bằng cách trích chuyển trên tài khoản hoặc bù trừ qua ngân hàng mà không phải sử dụng trực tiếp tiền mặt trong khoản thanh toán đó.
Đặc điểm của thanh toán không dùng tiền mặt Thứ nhất, tính vô hình. Vật trung gian trao đổi trong các giao dịch không phải là tiền vật chất (tiền giấy, tiền vàng,…) mà là đồng tiền kế toán hay đồng tiền ghi sổ- Đây là những đồng tiền vô hình không thể nhìn bằng mắt hay cảm nhận bằng xúc giác và nó tồn tại vô hình. Nếu như những chứng từ chứng minh thanh toán bằng tiền mặt rất khó để ghi chép đầy đủ và khó lưu giữ thì khi TTKDTM thì những bằng chứng về việc giao dịch sẽ lưu giữ thông qua các chứng từ sổ sách kế toán. Đây có thể coi là đặc điểm nổi bật của TTKDTM.
Thứ hai, tính độc lập. Đối với TTKDTM, sự vận động của hàng hóa và tiền tệ là độc lập với nhau. Theo đó, hoạt động thanh toán không được thực hiện một cách trực tiếp, mặt đối mặt theo kiểu “tiền trao cháo múc” mà có sự tách biệt giữa việc nhận được hàng hóa, dịch vụ và việc thanh toán cả về thời gian và không gian. Thật vậy, với TTKDTM, việc thanh toán được diễn ra bằng cách chuyển tiền từ tài khoản của người chi trả sang tài khoản của người được thụ hưởng.
Trong khi đó, hàng hóa có thể đã đến tay người mua hoặc đang trên đường vận chuyển. Ví dụ như, nếu mua sắm tại các Mall, khách hàng trả tiền bằng cách quẹt thẻ qua máy POS sẽ có thể nhận hàng hóa đã mua luôn. Nhưng khi mua sắm trên các sàn thương mại điện tử, khách hàng thực hiện thanh toán qua ví điện tử nhưng hàng hóa cần một thời gian kiểm tra và vận chuyển thì mới đến nơi người mua. Thứ ba, sự cần thiết của các trung gian thanh toán.
Đối với các giao dịch bằng tiền mặt, có thể không cần đến sự góp mặt của trung gian thanh toán, việc thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán. Còn đối với TTKDTM, việc có sự xuất hiện của các đơn vị TGTT là bắt buộc. Thật vậy các tổ chức này (nổi bật là ngân hàng) vừa là chủ thể tổ chức hoạt động thanh toán vừa là 8 chủ thể thực hiện thanh toán. Ngoài việc cung ứng các sản phẩm TTKDTM, tiến hành lập tài khoản cho khách hàng, Việc trích chuyển tiền từ tài khoản người trả đến tài khoản người hưởng được các tổ chức này thực hiện.
Đồng thời các tổ chức này cũng là chủ thể quản lý hoạt động này. Qua đó việc thanh toán diễn ra theo đúng quy định, dễ dàng, tiện lợi, đem đến sự hài lòng cho khách hàng. Thứ tư, dòng thông tin hai chiều, hoạt động TTKDTM bao gồm hai chủ thể chính: tổ chức cung ứng dịch vụ TTKDTM và khách hàng. Hoạt động này không đơn giản dừng lại ở một lần giao dịch rồi chấm dứt mà là tổng hợp của rất nhiều lần các giao dịch hai chiều diễn ra một cách thường xuyên và trong suốt một khoảng thời gian.
Thông qua các chuỗi giao dịch đấy, khách hàng có thể đưa ra so sánh, đánh giá và lựa chọn tổ chức TGTT phù hợp với yêu cầu, điều kiện của bản thân. Đồng thời, về phía các tổ chức TGTT cũng có thể thu thập thông tin và yêu cầu của khách hàng để gia tăng chất lượng dịch vụ, tăng tính cạnh tranh và thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Ví dụ như dòng thông tin hai chiều giữa ngân hàng và doanh nghiệp thông qua hoạt động TTKDTM: Thông qua các số liệu về thu, chi được thể hiện qua tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp có thể đánh giá được tình trạng sản xuất, kinh doanh của DN. Từ đó có thể dùng những thông tin đó để thẩm định cho vay với DN.
Bên cạnh đó, thông qua sự giám sát của mình, ngân hàng có thể đưa ra những ý kiến đóng góp cho DN về những mặt còn hạn chế để DN có thể lựa chọn hướng đi đúng đắn hơn trong tương lai. Thứ năm, tính đa dạng, phong phú và không ngừng phát triển. Thật vậy, TTKDTM cũng giống như các dịch vụ khác, theo thời gian sẽ ghi nhận sự phát triển nhất định, đặc biệt đặt dưới bối cảnh nền kinh tế số, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, kĩ thuật, thì TTKDTM ngày càng đa dạng, nâng cao cả về chất và lượng. Thật vậy, nếu như trước kia nhắc đến TTKDTM, chúng ta nhắc đến séc, lệnh chi, nhờ thu,… thì giờ đây ta có thêm thẻ ngân hàng, ví điện tử, Internet Banking,… Công nghệ được sử dụng trong TTKDTM cũng ngày càng phong phú và được update không ngừng như: QR code, công nghệ không tiếp xúc,… 9 1.
Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Theo Nghị định số 101/2012/NĐ- CP ngày 22/11/2012 và Nghị định 80/2016/NĐ-CP về Thanh toán không dùng tiền mặt cùng Thông tư 46/2014/TT- NHNN hướng dẫn về thanh toán không dùng tiền mặt có quy định rằng: “Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm: Thanh toán bằng séc; Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (hoặc Lệnh chi); Thanh toán bằng ủy nhiệm thu (hoặc Nhờ thu); Thanh toán bằng thẻ ngân hàng; Ví điện tử.” Với mỗi phương tiện TTKDTM sẽ đáp ứng nhu cầu thanh toán khác nhau, có những ưu, nhược điểm riêng. Thanh toán bằng Séc Khái niệm: “Séc là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, nó là một tờ lệnh vô điều kiện do khách hàng của Ngân hàng ký phát, ra lệnh cho Ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.”- Giáo trình Kế toán ngân hàng. Đặc điểm - Séc có 3 loại chính: Séc thanh toán, Séc bảo chi và Séc chuyển khoản. -Về thời hạn của Séc: Séc chỉ có giá trị trong thời hạn hiệu lực của nó.
Thời hạn đó sẽ được ghi trên bề mặt tờ séc và còn phụ thuộc vào luật của từng nước. - Về tính chuyển nhượng: Nếu thực hiện ký hậu theo quy định của pháp luật, trong thời hạn của Séc thì có thể chuyển nhượng được. - Về tính bắt buộc thực hiện: Nếu NH nhận được séc thì phải buộc phải thực hiện ngoại trừ các trường hợp theo như luật quy định như séc không đủ tính pháp lý,… - Về nội dung: Séc phải có những thông tin một cách đầy đủ như luật quy định như: địa điểm và ngày tháng lập séc, tên địa chỉ của người yêu cầu trích tài khoản, tài khoản được trích trả, ngân hàng trả tiền, tên địa chỉ của người hưởng số tiền trên 10 séc, chữ ký của người phát hành séc. Nếu là tổ chức thì phải có chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng và dấu của tổ chức đó.
- Thường thì Séc sẽ được in sẵn theo mẫu mà NH đã trình NHNN phê duyệt. Ưu điểm của Séc: Vì có khả năng chuyển nhượng được và được đảm bảo khả năng thanh toán đối với séc bảo chi nên Séc là phương tiện TTKDTM khá được ưa thích sử dụng. Nhược điểm của Séc: Nếu quá hạn hiệu lực của Séc sẽ không được chấp nhận thanh toán. Vậy nên phải luôn để ý đến thời gian sử dụng Séc.
Thanh toán bằng ủy nhiệm chi (hoặc Lệnh chi) Khái niệm “Thanh toán ủy nhiệm chi (Lệnh chi) là việc ngân hàng thực hiện yêu cầu của bên trả tiền trích một số tiền nhất định trên tài khoản thanh toán của bên trả tiền để trả hoặc chuyển tiền cho bên thụ hưởng. Bên thụ hưởng có thể là bên trả tiền”. (Điều 3, Khoản 3 Thông tư 46/2014/TT-NHNN) Đặc điểm -Chỉ hợp pháp và được phép thực hiện nếu như khách hàng có yêu cầu, và có ký vào mẫu được lập theo đúng quy định. - Ủy nhiệm chi sẽ không có giá trị nếu số dư trong tài khoản khách hàng nhỏ hơn số tiền được ghi trên UNC, trừ khi có thỏa thuận khác giữa ngân hàng và khách hàng.
- Phạm vi có thể áp dụng UNC để thanh toán có thể là tại một chi nhánh hoặc giữa các chi nhánh ngân hàng với nhau (cùng hệ thống hay khác hệ thống đều được) trải dài khắp cả nước. Ưu điểm 11 Dùng UNC có thể giảm bớt chi phí, tiện lợi cho khách hàng sử dụng. Bên cạnh đó với việc có ngân hàng làm trung gian thì ủy nhiệm chi phần nào cũng thể hiện được sự an toàn trong các giao dịch phát sinh.