CHƯƠNG 1 Trong chương ], tác giả giới thiệu tông quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của đề tài nghiên cứu về các yếu tổ ảnh hưởng đến quyết định sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của khách hàng tại các Cửa hàng xăng dầu của Công ty xăng dầu Đồng Nai. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đề hình thành mô hình nghiên cứu của để tài, bao gồm: cơ sở lý luận về hình thức TTKDTM, lý thuyết hành vi khách hàng (bao gồm: hành vi tiêu dùng, lý thuyết trải nghiệm khách hàng, lý thuyết quyết định sử dụng dịch vụ); “lý thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT2”. Tiếp theo, tác giả tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài từ các nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu các yếu tổ tác động đến quyết định sử dụng hình thức TTKDTM của KH tại các Cửa hàng xăng dầu của Petrolimex Đồng Nai bao gồm 6 biến độc lập là: “hiệu quả kỳ vọng, điều kiện thuận lợi, ảnh hưởng xã hội, động lực thụ hưởng, thói quen, nhận thức rủi ro”.1 Cơ sở lý thuyết về thanh toán không dùng tiền mặt 2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Hình thức TTKDTM là các phương thức thanh toán mà không cần sử dụng trực tiếp tiền mặt, thay vào đó sử dụng các công nghệ điện tử và số để thực hiện giao dịch tài chính.
Theo Văn bản hợp nhất 10/VBHN-NHNN năm 2019 hợp nhất Nghị định về TTKDTM do NHNN Việt Nam ban hành: “Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng”. Nghiên cứu “Quản lý nhà nước đối với dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong thanh toán nội địa của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diễm (Diễm, 2018) đã định nghĩa: “Thanh toán KDTM trong nước là sự dịch chuyên giá trị từ tài khoản này sang tài khoản khác trong các hệ thống tài khoản kế toán của ngân hàng nhà nước, các tô chức tín dụng, KBNN, bằng các phương tiện thanh toán KDTM và thông qua một trong các hệ thống thanh toán do Luật ngân hàng nhà nước và Luật Các tô chức tín dụng cho phép.” 10 Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Thanh toán không dùng tiền Ao? mặt của người dân ở các huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên Huê” (Trâm, 2022) của tác giả Trần Thị Khánh Trâm đã cho rằng: “Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được thực hiện bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chỉ trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.” Tác giả Nguyễn Thị Phương Liên trong nghiên cứu: “Giải pháp phát triển Thanh toán thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam” (Liên, 2021) đã viết: “Thanh toán không dùng tiền mặt là việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản trong hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán (trong đó Ngân hàng thương mại là tổ chức chủ yếu, có lịch sử cung cấp dịch vụ này lâu nhất) hoặc bù trừ công nợ mà không sử dụng đến tiền mặt”. Nghiên cứu “Phát Triển Thanh Toán Không Dùng Tiền Mặt Ở Khu Vực Nông Thôn, Vùng Sâu, Vùng Xa” của tác giả Lương Văn Hải và Nguyễn Thị Hồng Lan cho rằng: “ Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán sử dụng các phương tiện thanh toán điện tử ứng dụng công nghệ số, như: Ví điện tử, Mobile Banking, Internet Banking. hoặc thanh toán gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng thay việc người mua và người bán trực tiếp trao đối với nhau như thông lệ hiện nay” (Lương Văn Hải & Lan, 2023).
Theo tác giả Lương Minh Lan trong nghiên cứu “Hướng tới nền kinh tế thanh toán không dùng tiền mặt — khả thi hay không kha thi?” (Lan, 2018) đưa ra khái niệm: “Thanh toán không dùng tiền mặt là quan hệ chỉ trả tiền giữa người mắc nợ và chủ nợ phát sinh trong quá trình mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thông qua tài khoản của mình tại đơn vị trung gian là ngan hang. R6 rang ở đây tác giả đang nói đến quan hệ mua bán chứ thực ra trong xã hội còn có nhiều hoạt động thanh toán khách và mặt khác đơn vị trung gian thanh toán cũng có nhiều chứ không nhất thiết luôn luôn là ngân hàng. 11 Nghién ctru “Determinants of non-cash payments in Asian countries” cua tac gia Ruixin Chen va cac cộng sự (Chen et al., 2019) đã viết: “Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ đã làm thay đôi cách con người giao tiếp và giao dịch trên toàn thế giới. Thanh toán không dùng tiền mặt như thẻ thanh toán cũng như thanh toán kỹ thuật số là những cách hiệu quả hơn để hoàn tất giao dịch so với tiền mặt.
Thanh toán kỹ thuật số được định nghĩa là các giao dịch không dùng tiền mặt được xử lý thông qua các kênh kỹ thuật số với hình thức chính là thanh toán di động. Thanh toán di động có nghĩa là tất cả các giao dịch tại điểm bán lẻ ở các địa điểm bán lẻ được xử lý thông qua thiết bị thông minh cá nhân.” Nghiên cứu nhắn mạnh thanh toán không dùng tiền mặt ở 2 khía cạnh: thanh toán thẻ và thanh toán di động. Đứng trên quan điểm phương thức hoạt động của TTKDTM nghiên cứu “How Does FinTech Affect Consumer Non-cash Payment Satisfaction? The Moderating Role of Financial Knowledge” ctia cac tác gia Fuzhong Chen va Xiaoyan Chen cho rang: “Thanh toán không dùng tiền mặt là phương thức thanh toán hoàn toàn mới ra đời dựa trên công nghệ Internet, được liên kết trực tiếp với các tô chức tài chính và FinTech dịch vụ thanh toán, chuyển tiền giữa người trả tiền và người được trả tiền qua thiết bị di động và Internet”. Nghiên cứu nhấn mạnh sự phát triển của TTKDTM dựa trên sự phát triển của công nghệ tài chính (FinTech) và sự hậu thuẫn của mạng Internet.
Qua việc tham khảo nhiều quan điểm từ nhiều nguồn, có thể cho rằng TTKDTM, hay còn gọi là thanh toán điện tử hoặc thanh toán số, là hình thức thanh toán mà không cần sử dụng tiền mặt vật lý. Thay vào đó, người tiêu đùng và các doanh nghiệp sử dụng các phương thức thanh toán khác như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, ví điện tử, chuyến khoản ngân hàng, mã QR, và các hình thức thanh toán qua điện thoại di động. Đây là xu hướng đang ngày càng phổ biến do sự tiện lợi, an toàn và hiệu quả mà nó mang lại. Thanh toán không dùng tiền mặt đang ngày càng trở nên phố biến và được ưa chuộng, đặc biệt trong thời đại công nghệ số và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ.2 Vai trò và đặc điểm của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt 12 Trong văn bản quy định về việc sử dụng tiền mặt của chính phủ Việt Nam ban hành năm 2013 có quy định về những thanh toán không được hoặc hạn chế sử dụng tiền mặt.
Cụ thể, Nghị định số 222/2013/NĐ-CP “Vẻ ¿hanh toán bằng tiền mặt” (C. Phủ, 2013) nêu rõ các thanh toán không được giao dịch bằng tiền mặt đối với các tô chức: tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; Tổ chức, cá nhân giao dịch trên sở giao dịch Chứng khoán; Các doanh nghiệp không thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch góp vốn và mua bán, chuyền nhượng phần vốn góp vào doanh nghiệp và cho vay lẫn nhau. Với văn bản này chính phủ đã yêu cầu sử dụng TTKDTM với rất nhiều hoạt động của các tô chức khác nhau, điều này khẳng định sự quan tâm và thúc đây việc TTKDTM từ phía nhà Nước. Chưa dừng lại ở văn bản trên, chính phủ liên tục có các văn bản, chính sách về việc TTKDTM như: Quyết định số 2545/QĐ-TTg, ngày 30-13-2016, của Thủ tướng Chính phủ, về việc “Phê duyệt Dé an phat triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020”.
Trong văn bản này Chính phủ đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Tạo sự chuyển biến rõ rệt về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế; đảm bảo an ninh, an toàn và hiệu quả hoạt động của hệ thống, phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt”. Quyết định số 241/QĐ-TTg, ngày 23-2-2018, của Thủ tướng Chính phủ, về việc “Phê duyệt Đề án đầy mạnh thanh toán qua ngân hàng với dịch vụ công: Thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội.” qua quyết định này chính phủ đã yêu cầu việc TTKDTM đối với những dịch vụ công cơ bản và chiếm tỷ lệ thanh toán lớn trong đời sồng xã hội. Chỉ thị số 22/CT-TTg, ngày 26-5-2020, của Thủ tướng Chính phủ “Về việc đây mạnh triển khai các giải pháp phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam”. Với sự quan tâm và thúc đây rất mạnh mẽ từ phía chính phủ cho thấy vai trò to lớn của TTKDTM trong mọi hoạt động thanh toán tại Việt Nam Theo số liệu thống kê đăng trên website chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “https:/www.vn/webcenter/portal/vi/menu/trangchu/tk”, số liệu tài khoản 13 thanh toán của cá nhân tại thời điểm cuối Quý 4/2023 là 182.883 nghìn tài khoản tăng 21,7 % so với cùng kỳ năm 2022 (150.243 nghìn tài khoản).
Các chỉ số TTKDTM có mức tăng trưởng khá. Số liệu giao dịch TTKDTM qua Internet quý 4/2023 là gần 650 triệu món tăng 43% so với cùng kỳ, giá tri giao dich la 1.462 ty déng ting 8,6 % so với cùng kỳ. Số lượng giao dịch quý 4 năm 2023 qua Mobile Banking tăng 57,8% với giá trị giao dịch tăng 20,8% so với cùng kỳ. Quý 4/2023 số lượng máy POS sử dụng tăng 30,9% so với cùng kỳ năm 2022, cùng với đó số lượng giao dịch tăng 5,7% và giá trị giao dịch tăng 9,1%.1 Số liệu TTKDTM Tỷ lệ tăng STT Chỉ tiêu Quý 4/2022 | Quý 4/2023 trưởng Số tài khoản thanh toán của cá 1 nhân (nghìn tài khoản) 150.883 121,7% Giao dịch qua Internet Số lượng giao dịch (nghìn món) 453.934 143,2% Giá trị giao dịch (tỷ đồng) 15.462 108,6% 3_ | Giao dịch qua Mobile Banking Số lượng giao dịch (nghìn món) 1.