Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng cá nhân tại BIDV-chi nhánh Đồng Nai. - Chương 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng cá nhân tại BIDV Đồng Nai. - Chương 4: Các giải pháp mở rộng thị trường khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài LV Quản lý kinh tế Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng cá nhân, tuy nhiên, tác giả đã tổng hợp kết quả của nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước để chọn ra các yếu tố quan trọng nhất. Sau đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu mới và tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu và tiến hành phân tích định lượng để tìm ra những yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng cá nhân tại BIDV chi nhánh Đồng Nai. Nhờ đó, bài nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các ngân hàng để nắm bắt những mong muốn của khách hàng đối với dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh để đưa ra các giải pháp thích hợp và các chiến lược tiếp thị hiệu quả nhằm thu hút những khách hàng mới sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh tại ngân hàng mình. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUA ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BIDV CHI NHÁNH ĐỒNG NAI.
Để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng cá nhân, nghiên cứu cần tổng hợp những lý thuyết liên quan về thanh toán điện tử, thanh toán qua điện thoại thông minh, các học thuyết về ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cần trình bày chọn lọc kết quả của các nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại thông minh của khách hàng và thiết lập mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện nghiên cứu, đưa ra các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình nghiên cứu. Khái niệm về thanh toán qua điện thoại di động LV Quản lý kinh tế Thanh toán bằng thiết bị di động là hình thức thanh toán điện tử cụ thể, sử dụng công nghệ truyền thông bằng cách cho phép người dùng di động thực hiện thanh toán bằng thiết bị di động được kết nối Internet (Dahlberg, Mallat, Ondrus, & Zmijewska, 2006). Ghezzi, Renga, Balocco và Pescetto (2010) tóm tắt khái niệm thanh toán di động là "một quá trình trong đó ít nhất một pha của giao dịch được thực hiện bằng thiết bị di động (chẳng hạn như thiết bị di động điện thoại, điện thoại thông minh, PDA hoặc bất kỳ thiết bị hỗ trợ không dây nào) có khả năng xử lý an toàn giao dịch tài chính qua mạng di động hoặc thông qua các công nghệ không dây khác nhau (NFC, Bluetooth, RFID, v.
Dahlberg, Mallat, Ondrus và Zmijewska (2008) mô tả thanh toán qua điện thoại di động là "thanh toán cho hàng hóa, dịch vụ và hóa đơn bằng điện thoại di động, điện thoại thông minh hoặc trợ lý kỹ thuật số cá nhân bằng cách tận dụng các công nghệ không dây và truyền thông khác”, và Liu, Kauffman và Ma (2015) đã mở rộng nó thành “các hình thức trao đổi kinh tế khác”. 7 Các hình thức thanh toán qua điện thoại di động bao gồm: - Ví di động: Đây là tài khoản điện tử được tích hợp trong ứng dụng điện thoại giúp bạn đựng tiền từ bất kỳ tài khoản ngân hàng nào và thanh toán một cách linh hoạt. Hình thức thanh toán này vô cùng đơn giản, nhanh gọn, tiết kiệm về cả thời gian, tiền bạc. - Thanh toán bằng thẻ: Thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ.
- Thanh toán cho nhà cung cấp dịch vụ (SMS cao cấp hoặc thanh toán trực tiếp cho nhà cung cấp). - Thanh toán không tiếp xúc NFC (Giao tiếp trường gần). - Chuyển tiền trực tiếp giữa người thanh toán và tài khoản ngân hàng người nhận thanh toán thông qua ứng dụng mobile banking trên điện thoại di động. Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về hình thức thanh toán qua điện thoại thông minh bằng công nghệ giao tiếp trường gần NFC, cụ thể là dịch vụ Samsung Pay sẽ LV Quản lý kinh tế được giới thiệu chi tiết tại chương 3.
Nếu triển khai tốt dịch vụ này sẽ là tiền đề để triển khai dịch vụ Appple Pay vốn đã rất quen thuộc tại các nước phương tây. Cơ sở lý thuyết về hành vi lựa chọn của ngƣời tiêu dùng Thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi đự định (TPB) Lý thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen xây dựng từ lý thuyết gốc TRA (Lý thuyết về hành động hợp lý ). TRA được phát triển bởi Fishbein & Ajzen (1969-1980), khái quát từ lĩnh vực tâm lý xã hội, đây là một trong những thuyết cơ bản nhất về hành vi của con người. Theo TRA, hành vi của một người được xác định bởi ý định thực hiện, mà ý định thực hiện lại được xác định bởi thái độ của con người và chuẩn mực chủ quan của họ đối với hành vi đó.
Trên nền tảng của TRA, thuyết TPB bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) - là yếu tố bên ngoài con người vừa có tác động lên ý định vừa có tác động trực tiếp đến hành vi thực tế, khác với các yếu tố từ bên trong con người chỉ tác động gián tiếp đến hành vi thông qua ý định. Nói cách khác, khi con người 8 có nhận thức bên trong đủ mạnh về sự đúng đắn, cần thiết của hành vi và họ cảm thấy khả năng kiểm soát hành vi thực tế của mình (hay điều kiện thuận lợi) cao thì họ sẽ có khuynh hướng thực hiện các ý định của mình ngay khi có cơ hội.1:Mô hình TPB Lý thuyết về chấp nhận công nghệ (TAM) Được giới thiệu bởi Davis (1989), dựa theo mô hình TRA, TAM nghiên cứu LV Quản lý kinh tế sự chấp nhận hệ thống công nghệ thông tin. Mô hình này cho thấy, khi người dùng được giới thiệu một công nghệ mới, những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ như thế nào và khi nào họ sẽ sử dụng nó. Trong mô hình, cảm nhận tính hữu ích và cảm nhận sự dễ dàng sử dụng là hai yếu tố quan trọng nhất giải thích ý định và hành vi sử dụng thực tế của người sử dụng.
Davis (1989) định nghĩa cảm nhận tính hữu ích như mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ tăng cường hiệu suất công việc của mình và cảm nhận sự dễ dàng sử dụng đề cập đến mức độ mà người đó tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ tiết kiệm công sức cho họ.2: mô hình TAM. 9 Lý thuyết về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT: Để hiểu rõ việc áp dụng công nghệ, Venkatesh & ctg (2003) so sánh thực nghiệm với tám mô hình (TRA), TAM và TAM2, TPB và DTPB, kết hợp TAM và TPB (C-TAMTPB), IDT, mô hình động lực (MM), mô hình sử dụng máy tính (MPCU), và lý thuyết nhận thức xã hội (SCT) trong một cuộc khảo sát 215 người trả lời từ 4 tổ chức. Dựa trên các nghiên cứu theo chiều dọc thời gian, Venkatesh & ctg (2003) đã tích hợp thêm và tinh chế tám mô hình phía trên thành 1 mô hình mới là UTAUT (Theory of Acceptance and Use of Technology - Thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ), mô hình này nắm bắt được các yếu tố cần thiết của những mô hình khác nhau. UTAUT không những nhấn mạnh các yếu tố cốt lõi dự đoán được ý định về việc chấp nhận hiện tại, mà còn cho phép những nhà nghiên cứu phân tích các biến điều tiết mà sẽ khuyếch đại hoặc hạn chế tác động của các yếu tố cốt lõi.
Theo Venkatesh & ctg (2003), qua việc kiểm tra bằng cách sử dụng lại dữ liệu đầu vào, UTAUT cho ra độ chính xác cao hơn so với 8 mô hình riêng biệt ở trên vừa đề cập. LV Quản lý kinh tế Hình 2.3: Mô hình về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ UTAUT 10 Trong mô hình UTAUT, 4 yếu tố đóng vai trò ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chấp nhận và sử dụng của người dùng, bao gồm: Kỳ vọng hiệu quả, kỳ vọng dễ dàng, ảnh hưởng xã hội, và điều kiện thuận lợi. Ngoài ra còn các yếu tố ngoại vi (giới tính, độ tuổi, sự tự nguyện và kinh nghiệm) điều chỉnh đến ý định sử dụng. Các kết quả nghiên cứu trƣớc đây về ý định hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động.
Trong lĩnh vực hệ thống thanh toán di động, Slade và cộng sự (2015) đã tổng hợp 25 nghiên cứu định lượng qua Google Scholar® và Scopus®, kết luận rằng nhận thức tính hữu ích và nhận thức dễ sử dụng là yếu tố quyết định và quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định sử dụng hệ thống thanh toán di động (trong trường hợp nghiên cứu mà họ đã xem xét). Dahlberg và cộng sự (2015) cũng đã tổng hợp 188 bài viết về nghiên cứu thanh toán di động, được xuất bản trong giai đoạn 2007– 2014 và nhận thấy sự dễ sử dụng và nhận thức được tính hữu ích là các biến thường xuyên nhất, tiếp theo là dựa trên sự bảo mật (Trust, Risk and Security) và ảnh LV Quản lý kinh tế hưởng xã hội. Ngoài ra,Shaikh và Karjaluoto (2015) đã đưa ra những phát hiện tương tự sau khi xem xét tài liệu về việc áp dụng thanh toán di động, họ đã đánh giá 55 bài báo liên quan được xuất bản trong các tạp chí khoa học và các ấn phẩm hội nghị. Cụ thể, trong nghiên cứu của Ja-Chul Gu, Sang-Chul Lee, Yung-Ho Suh (2009) nhằm mục đích kiểm tra và xác nhận các yếu tố quyết định ý định của người dùng đối với dịch vụ thanh toán di động.
Nghiên cứu này sử dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm tra các nguyên nhân trong mô hình được đề xuất.