Chương 1 giới thiệu tổng quan về thanh toán tiền điện KSDTM trên địa bàn Huyện Xuân Lộc mà Điện Lực đang cung cấp dịch vụ điện, đang đứng trước những khó khăn, thách thức trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự thay đổi của tiến bộ công nghệ thanh toán trực tuyến và áp lực xóa thu tiền điện tại các hộ gia đình ở nông thôn, theo chủ trương của Công Ty TNHH MTV Điện Lực Đồng Nai đặt ra mục tiêu là hoàn thành công tác xóa thu tại nhà 100% và tỷ lệ thanh toán tiền điện KSDTM đạt 45% đến cuối năm 2020, nhưng thực tế Công ty chưa xây dựng chương trình triển khai cụ thể chi tiết. Đây cũng là tính cấp thiết của đề tài mà tác giải cần phải nghiên cứu giải pháp phù hợp đặc điểm vùng miền nhằm gia tăng quyết định lựa chọn thanh toán tiền điện KSDTM khu vực nông thôn. Với mục đích tìm ra nhân tố tác động đến quyết định thanh toán tiền điện KSDTM ở nông thôn, tác giả chọn đối tượng khách hàng hộ gia đình để thực hiện nghiên cứu trong phạm vi địa bàn huyện Xuân lộc. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Tổng quan về thanh toán KSDTM và các hình thức thanh toán tiền điện: 2. Khái quát về thanh toán KSDTM: Thanh toán (chi trả) là sự chuyển giao tài sản của một bên là cá nhân hay công ty tổ chức nào đó cho bên kia, được sử dụng khi trao đổi dịch vụ hoặc sản phẩm hàng hóa trong một giao dịch có ràng buộc pháp lý. Phương thức đơn giản nhất của thanh toán là hàng đổi hàng. Trong đó, tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết kết thúc quá trình trao đổi.
Lúc này chức năng của tiền là phương tiện thanh toán. Sự vận động của tiền tệ về nguyên tắc có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của hàng hoá. Ngoài việc tiền là phương tiện thanh toán, để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa, tiền còn được sử dụng để thanh toán những khoản nợ như trao đổi, nộp thuế, trả lương, đóng góp các khoản chi dịch vụ. Lưu thông KSDTM là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng.
Đặc điểm của thanh toán KSDTM: Thanh toán KSDTM là một sản phẩm phát triển tất yếu cho nền kinh tế hiện đại. Về cơ bản, thanh toán KSDTM có những đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, sự vận động của tiền tệ có thể độc lập tương đối hoặc tách rời với sự vận động của hàng hóa cả về không gian và thời gian. Việc giao và nhận hàng hóa tại một không gian, thời gian nào đó nhưng việc thanh toán có thể được thực hiện tại một địa điểm, thời gian khác. Thứ hai, trong thanh toán KSDTM, tiền tệ xuất hiện không chỉ dưới vai trò là trung gian trao đổi, mà xuất hiện dưới vai trò là tiền ngân hàng (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các sổ sách chứng từ.
Do đó thanh toán KSDTM yêu cầu các bên giao dịch mua bán phải có tài khoản ngân hàng. Thứ ba, trong thanh toán KSDTM, ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong phương thức thanh toán này. Nếu như thanh toán bằng tiền mặt 8 được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán thì thanh toán KSDTM được thực hiện thông qua sự tham gia của ít nhất một ngân hàng. Do đó, vai trò của ngân hàng là không thể thiếu trong thanh toán chuyển khoản, đồng thời trở thành trung tâm thanh toán cho toàn xã hội.
Các hình thức chủ yế u của thanh toán không dùng tiền mă ̣t: Hình thức thanh toán là sự liên kết các yếu tố của quá trình thanh toán, là tổng thể các quy định về một cách thức trả tiền,. Các hình thức cụ thể: 2. Ủy nhiê ̣m chi: Ủy nhiê ̣m chi (UNC) là phương tiện thanh toán mà người trả tiền lập lệnh thanh toán theo mẫu do ngân hàng quy định, gửi cho ngân hàng nơi mình mở tài khoản yêu cầu trích một số tiền nhất định trên tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng. UNC phải do Khách hàng lập, ký và ngân hàng chỉ căn cứ vào lệnh đó để trích tiền từ tài khoản khách hàng chuyển trả cho đơn vị thụ hưởng.
Nếu có thỏa thuận trước giữa Ngân hàng và khách hàng bằng văn bản thì ngân hàng được phép tự động trích tài khoản của khách hàng. Đây là mô ̣t hiǹ h thức thanh toán khá phổ biế n trong môi trường kinh tế các nước khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường, như các doanh nghiệp nhờ Ngân hàng trả lương vào Tài khoản của công nhân, việc nộp các loại phí bảo hiểm. Ủy nhiê ̣m thu: Ủy nhiê ̣m thu là nghiê ̣p vu ̣ thu tiề n, mà trong đó người ủy thác cho ngân hàng thu mô ̣t khoản tiề n ở người mua tương ứng với giá tri ̣ trên hơ ̣p đồ ng mà người mua và người bán đã ký. Ủy nhiê ̣m thu là mô ̣t trong những phương tiê ̣n thanh toán không dùng tiề n mă ̣t đang đươ ̣c áp du ̣ng hiê ̣n nay ta ̣i Viê ̣t Nam như các dich ̣ vu ̣ điê ̣n, nước, điê ̣n thoa ̣i, song nó không đươ ̣c phổ biế n bởi tin ́ h rủi ro trong thanh khoản khi người mua từ chố i thanh toán hoă ̣c không có khả năng thanh toán.
Séc (cheque): Séc được xem là một mệnh lệnh vô điều kiện của chủ tài khoản, yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài khoản của chủ tài khoản để chi trả cho người có tên trong séc, 9 hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay chuyển khoản. Với sự phát triển ngày càng nhanh của thương mại quốc tế, nhất là sau thời kỳ mở kinh tế của nước ta từ sau những năm 1990, cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng, các phương tiện thanh toán KSDTM đã ngày càng mở rộng và hiện nay séc cũng đã được sử dụng khá phổ biến. Đối tượng sử dụng séc chủ yếu vẫn là những pháp nhân, cá nhân vẫn còn sử dụng hầu hết là thanh toán bằng tiền mặt. Thư tín dụng: Thư tiń du ̣ng (LC) là mô ̣t văn bản pháp lý được phát hành bởi một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng), nhằm cung cấp một sự bảo đảm trả tiền cho một người thụ hưởng trên cơ sở người thụ hưởng phải đáp ứng các điều khoản trong thư tín du ̣ng.
Đố i với thanh toán trong nước, thư tin ́ du ̣ng it́ đươ ̣c sử du ̣ng, chủ yếu được sử dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. ATM/Thẻ Thanh toán: Thẻ thanh toán là mô ̣t phương thức thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động. Để khắc phục nhược điểm của séc, cùng với phát triển của máy tính điện tử và hệ thống viễn thông, trong mấy thập kỷ qua hệ thống thanh toán được cải tiến và hoàn thiện, chuyển sang một hệ thống mới với Thẻ thanh toán. Như vâ ̣y, khi Internet ra đời, việc giao lưu kinh tế được thuận lợi hơn bao giờ hết, nó không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Nhờ đó, các giao dịch mua bán hàng hóa được thực hiện gần như tức thời. Vấn đề cần được giải quyết là phải xác nhận về người mua hàng và người bán hàng, xác nhận về giao dịch, các quy định về thủ tục hải quan liên quan đến xuất nhập khẩu, vấn đề bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa (nếu có), cơ sở để xử lý tranh chấp … và đặc biệt là vấn đề thanh toán. Thanh toán điện tử trong thương mại điện tử là vấn đề rất phức tạp, đa dạng liên quan đến 10 pháp lý, kinh tế, tiền tệ và kỹ thuật trong việc đạt được mục tiêu “Chính xác - Nhanh chóng – An toàn”. Các hình thức thanh toán KSDTM khác (thanh toán điện tử) như: - Internet Banking/mobile Banking Internet Banking (giao dịch ngân hàng điện tử) là một dịch vụ ngân hàng trực tuyến cho phép khách quản lý tài khoản và thực hiện các giao dịch như gửi tiền tiết kiệm online, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, nạp tiền, các dịch vụ tài chính, nộp thuế.
thông qua thiết bị kết nối Internet. Giao dịch của dịch vụ Internet Banking (giao dịch ngân hàng điện tử ) chỉ được thực hiện một khi khách hàng nhập đúng được mã OTP (one time password) xác thực được ngân hàng gửi về cho khách hàng. Chỉ cần đăng ký dịch vụ giao dịch ngân hàng điện tử tại chi nhánh/Phòng giao dịch của ngân hàng và duy trì hàng tháng với mức phí trên dưới 10 nghìn đồng tùy ngân hàng và bạn sẽ thấy tiện lợi vô cùng vì: Giao dịch mọi lúc mọi nơi chỉ cần có Internet trực tuyến mà không cần tới Ngân hàng hay ra cây ATM An toàn bảo mật với hệ thống xác thực hai lớp. Có nhiều tính năng được tích hợp chuyển tiền cùng ngân hàng, khác ngân hàng online, gửi tiền online , thanh toán tiện ích, tăng hiệu quả hoạt động quản lý tài khoản cá nhân và tiết kiệm thời gian.
Mobile Banking (dịch vụ ngân hàng qua điện thoại) do ngân hàng cung cấp đến khách hàng của mình qua phần mềm ứng dụng trên điện thoại. Điều kiện để sử dụng dịch vụ Mobile Banking là điện thoại của quý khách hàng phải có kết nối internet trực tuyến thông qua các hình thức như GPRS/3G/4G/LTE/wifi… Những giao dịch mà dịch vụ Mobile Banking (dịch vụ ngân hàng qua điện thoại) có thể thực hiện bao gồm các dịch vụ ngân hàng căn bản như: Chuyển khoản, truy vấn thông tin tài khoản Mở tài khoản tiết kiệm, tất toán tài khoản tiết kiệm 11 Thanh toán tiền điện thoại trả sau, thanh toán hóa đơn dịch vụ, , nạp tiền điện thoại cho thuê bao trả trước… Hạn mức giao dịch ngân hàng mà dịch vụ Mobile Banking tùy thuộc theo quy định và chính sách từng ngân hàng. Tính hữu dụng mà dịch vụ Mobile Banking mang lại được đánh giá là dễ sử dụng, đơn giản, tương thích với nhiều loại điện thoại, phương thức giao dịch đa dạng, giao dịch được bảo mật và đảm bảo an toàn.