phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tiền Giang Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tiền Giang 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NG N H NG BÁN LẺ 1. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng bán lẻ 1. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến đƣợc định nghĩa trong nhiều nghiên cứu.
Theo Zeithaml & Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. “ Dịch vụ là một hoạt động hoạc một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình, nhƣng không cần thiết, diễn ra trong các mối tƣơng tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặc hàng hoá và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ đƣợc cung cấp nhƣ là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” (Gronroo, 1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner , 1998) Lovelock and Wright (2002) cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động hay hiệu suất từ một công việc nào đó đƣợc cung cấp bởi một bên cho một bên khác. Mặc dù quá trình có thể đƣợc gắn với một sản phẩm hữu hình, hiệu suất về cơ bản là vô hình và thƣờng không dẫn đến quyền sở hữu của bất kỳ một yếu tố sản xuất nào. Dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo ra giá trị và mang lại lợi ích cho khách hàng tại thời gian và địa điểm cụ thể, nhằm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng. “Dịch vụ là kết quả của một quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành đầu ra cần thiết cho khách hàng. Quá trình đó bao gồm các hoạt động phía sau ( bên trong) và các hoạt động phía trƣớc, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng theo các mà khách hàng mong muốn và duy cho cùng đó là tạo ra giá trị của khách hàng” (Hà Nam Khánh Giao, 2018). 1 Theo Luật thƣơng mại 2005 đã sửa đổi bổ sung 2017: Cung ứng dịch vụ là hoạt động thƣơng mại, theo đó một bên ( sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận.
Nhiều khái niệm về dịch vụ đƣợc phát biểu, nhƣng nhìn chung thì dịch vụ là những hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngƣời. - Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Theo David Cox (2002), dịch vụ ngân hàng bao gồm 3 loại hình dịch vụ chính: dịch vụ trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay), dịch vụ thanh toán và các loại dịch vụ khác. Kotler (2004) đứng trên phƣơng diện về sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng cho rằng: dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trƣờng tài chính. Theo quan niệm của WTO, dịch vụ tài chính là bất cứ một dịch vụ nào có bản chất tài chính đƣợc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một nƣớc thành viên chào.
Các dịch vụ tài chính bao gồn tất cả các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác trừ dịch vụ bảo hiểm. Trong đó, các dịch vụ ngân hàng bao gồm các hoạt động nhận tiền gửi; cho vay tất cả các loại; các dịch vụ thanh toán; cho thuê tài chính; bảo lãnh. Trong bảng phân ngành dịch vụ của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO),dịch vụ ngân hàng đƣợc chia thành 12 phân ngành cụ thể: 1. Nhận tiền gửi và các khoản tiền gửi từ công chúng.
Cho vay dƣới mọi hình thức bao gồm: cho vay tiêu dùng, thế chấp, bao thanh toán và các khoản tài trợ cho các giao dịch thƣơng mại khác. Cho thuê tài chính 4. Tất cả các khoản thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thanh toán, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng. Bảo lãnh và cam kết thanh toán 6.
Tự doanh hoặc kinh doanh trên tài khoản của khách hàng, kể cả trên thị trƣờng tập trung, thị trƣờng tự do (OTC) hoặc các thị trƣờng khác. Phát hành các loại chứng khoán, bao gồm cả việc bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành (cả phát hành công khai và không công khai) và cung ứng các dịch vụ liên quan đến hoạt động phát hành. Môi giới tiền tệ 9. Quản lý tài sản gồm quản lý tiền mặt, quản lý danh mục, tất cả các hình thức quản lý đầu tƣ tập thể, quản lý hƣu trí, dịch vụ uỷ thác, lƣu ký và tín thác.
Dịch vụ thanh toá và thanh toán bù trừ đối với các tài sản chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ có thể chuyển nhƣợng khác. Cung cấp và trao đổi các thông tin tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm có liên quan của các nhà cung ứng dịch vụ tài chính khác. Dịch vụ tƣ vấn, môi giới và các dịch vụ tài chính hỗ trợ khác liên quan đến tất cả các hoạt động nói trên, bao gồm cả việc tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tƣ vấn và đầu tƣ theo danh mục, tƣ vấn đối với các hoạt động mua lại và tái cơ cấu doanh nghiệp cũng nhƣ xây dựng chiến lƣợc. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (2010) có quy định về dịch vụ ngân hàng nhƣng không nêu ra định nghĩa mà đƣa ra cụm từ “Hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” đƣợc bao gồm các nội dung: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, tại khoản 1 và khoản 7, điều 20 “Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Theo Chƣơng 3 của Luật tổ chức tín dụng này đã nêu các điều khoản về hoạt động ngân hàng đƣợc chia theo 4 mảng lớn: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán và ngân quỹ và các hoạt động khác. 1 Từ những tiếp cận trên, dịch vụ ngân hàng cần đƣợc hiểu theo hai góc độ, nghĩa rộng và nghĩa hẹp: - Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của hệ thống ngân hàng với doanh nghiệp và công chúng. - Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng truyền thống (nhƣ huy động vốn và cho vay). Để phù hợp với quan niệm chung về dịch vụ ngân hàng mà quốc tế thừa nhận, luận văn chọn cách tiếp cận theo nghĩa rộng đối với khái niệm dịch vụ ngân hàng.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Theo cách hiểu phổ biến nhất, DVNHBL là hoạt động bao trùm tất cả các mặt tác nghiệp của NHTM, qua đó, phần đông các cá nhân nhỏ lẻ sẽ đƣợc tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tạo ra một thị trƣờng tiềm năng và đa dạng. Ngoài ra, còn nhiều quan điểm về DVNHBL đƣợc đƣa ra dựa trên các cách tiếp cận khác nhau. Đứng trên góc độ đóng góp của công nghệ thông tin đối với các DVNHBL, theo các chuyên gia kinh tế của Học viện nghiên cứu Châu Á – AIT (2008): “NHBL là cung cấp trực tiếp sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lƣới chi nhánh truyền thống hay thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin”. Một số chuyên gia khác nhìn nhận DVNHBL trên phƣơng diện nhà cung cấp, theo đó, đề cao vai trò của khâu phân phối dịch vụ.
“DVNHBL là hoạt động của phân phối mà trong đó triển khai các hoạt động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên , thử nghiệm, phát hiện, triển khai các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng” (Jean Paul Vontron – Ngân hàng Forties) Theo tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), DVNHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi mà các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh, phòng giao dịch (PGD) của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ 1 nhƣ: Tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra tài khoản, thế chấp, vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm. Qua nhiều các định nghĩa khác nhau, có thể thấy khái niệm về DVNHBL rất đa dạng nhƣng tựu trung lại, DVNHBL có thể hiểu nhƣ sau: DVNHBL là dịch vụ ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ tài chính tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiên thông tin, điện tử viễn thông. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ Thứ nhất, phân khúc khách hàng của DVNHBL rất rộng lớn và không đồng nhất. Từ cá nhân cho đến các doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa… Thêm vào đó là sự khác biệt về thu nhập, trình độ, sở thích, thị hiếu và nhu cầu của mỗi khách hàng.
Đối tƣợng khách hàng đa dạng và nhu cầu mang tính thời điểm đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng đa dạng hoá các danh mục sản phẩm nhƣ danh mục tiền gửi, tiền vay, dịch vụ chuyển tiền, thẻ… để phù hợp với từng nhóm khách hàng khác, đồng thời bắt kịp xu hƣớng biến động của thị trƣờng và nâng cao khả năng cạnh tranh. Thứ hai, sản phẩm dịch vụ phong phú, đa dạng và phát triển không ngừng. Đối tƣợng khách hàng của DVNHBL chủ yếu là khách hàng cá nhân khác nhau về thu nhập, trình độ dân trí, hiểu biết, tính cách, sở thích, độ tuổi, nghề nghiệp nên nhu cầu của khách hàng rất đa dạng.