Chương 1: Một số vấn đề lý luận phát triển dịch vụ Logistics đối với một doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ Logistics tại Công ty cổ phần Minh Phương Logistics. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ Logistics tại Công ty cổ phần Minh Phương Logistics đến năm 2025. 4 1CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò hoạt động Logistics 1. Cách tập cận khái niệm Logistics Có thể nói có hai cách tiếp cận về Logistics, một là tiếp cận từ khía cạnh quân sự và hai là tiếp cận từ khía cạnh kinh tế. Cụ thể: * Tiếp cận từ khía cạnh quân sự Lịch sử ra đời của khái niệm Logistics trước tiên trong lĩnh vực quân sự. Danh tướng Napoleon đã từng có những câu nói về Logistics nổi tiếng như: “Kẻ nghiệp dư bàn về chiến thuật, người chuyên nghiệp bàn về logistics”.
“Logistics là một chuỗi hoạt động để duy trì lực lượng quân đội”. [Đinh Văn Long, (2014), Logistics - cơ hội để cảng Vũng Áng thể hiện mình, Cảng vụ Hàng hải Hà Tĩnh] Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến và lần đầu tiên được triển khai, ứng dụng trong thương mại sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Như vậy, có thể thấy khái niệm Logistics đầu tiên được hiểu như những hoạt động và phương thức để duy trì lực lượng quân đội và là khái niệm xuất hiện từ rất lâu đời, và cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm nào thống nhất về thuật ngữ này. Theo mỗi giai đoạn, Logistics lại được hiểu theo cách khác nhau với những nội dung đa dạng và biến đổi nhiều hơn thời kỳ đầu.
* Tiếp cận từ khía cạnh kinh tế Khi Logistics đi vào lĩnh vực kinh doanh và xuất hiện trong các doanh nghiệp, thuật ngữ này lại có những cách hiểu khác nhau. 5 Theo từ điển Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, Logistics được hiểu là: ““Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó “. [“Oxford Advances Learners Dictionary of Current English”, US Fifth Edition, Hornby, Oxford University Press, 1995] Theo định nghĩa từ cuốn Logistix Partners Oy, “ Logistics được định nghĩa là một khung những kế hoạch quản lý về nguyên vật liệu, vốn và thông tin của doanh nghiệp. Logistics là hệ thống kiểm soát hệ thống thông tin phức tạp mà rất cần thiết trong môi trường kinh doanh ngày nay” [Logistix Partners Oy”, Helsinki, FI, 1996] Một định nghĩa khác cho rằng: “Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu giữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp”.
[“An Intergrated Approach to logistics Management”, Viện kỹ thuật công nghệ Florida - Mỹ] Có thể nói có hai cách tiếp cận về Logistics, một là tiếp cận từ khía cạnh quân sự và hai là tiếp cận từ khía cạnh kinh tế. Khái niệm về Logistics Do tầm quan trọng đặc biệt của Logistics, nên có nhiều trường phái, nhiều tác giả nghiên cứu Logistics và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics. Logistics có thể tạm dịch một cách không sát nghĩa là “hậu cần”. Trong các khái niệm và thuận ngữ được sử dụng trong các doanh nghiệp, ngoài Marketing là một thuật ngữ rất khó dịch từ các khái niệm, cách hiểu từ tiếng Anh sang tiếng Việt thì khái niệm Logistics cũng vậy.
Đây là thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau và có phạm vi nội dung khá rộng. Trong giới hạn và phạm vi của đề tài, tác giả xin trích dẫn một số khái niệm cụ thể như sau: Từ “Logistics” được giải nghĩa bằng tiếng anh trong cuốn “Oxford Advances Learners Dictionary of Current English, A. Fifth Edition, Oxford 6 University Press, 1995” như sau: Logistics có nghĩa là việc tổ chức cung ứng và dịch vụ đối với một hoạt động phức hợp nào đó (Logistics – the organization of supplies and services for any compex operation).1: Mô hình tổng quan về logistics Nguồn : Logistics Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam, NXB Giao thông vận tải - 2006 Theo hội đồng quản trị logistics Mỹ (The Council of Logistics Management CLM in the USA - CLM) - 1998 : Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ , nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng. Logistics được ủy ban logistics của Mỹ định nghĩa như sau : Logistics là quá trình lập kế hoạch , chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics quốc tế (CLM – The Council of Logistics Management), 7 “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hoá, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”. [Council of Logistics Management, http://www.html , 12/02/1998] Theo PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân trong cuốn “Logistics những vấn đề cơ bản”, “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng ch đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.TS Đoàn Thị Hồng Vân (Chủ biên) Th.S Kim Ngọc Đạt (Tham gia biên soạn), (2010), “Logistics những vấn đề cơ Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 không đưa ra khái niệm “logistics” mà đưa ra khái niệm “ dịch vụ logistics” như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.( Điều 233- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005)bản”, Nhà xuất bản Lao động xã hội] Như vậy, có thể thấy thuật ngữ Logistics có nhiều khái niệm khác nhau, phát triển theo từng giai đoạn khác nhau và với nhiều cách hiểu khác nhau về nội dung. Tuy nhiên, tựu chung lại, sau khi hệ thống hóa lại các khái niệm về Logistics, tác giả thấy rằng Logistics là khái niệm dùng để chỉ một loạt những hoạt động hậu cần trong doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu của đơn vị một cách dễ dàng hơn. Đó là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát các luồng chuyển dịch của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ.
Hiểu cụ thể hơn, Logistics là một quá trình tiên lượng nhu cầu và yêu cầu cuả khách hàng; lo liệu 8 vốn, vật tư, nhân lực, công nghệ và thông tin cần thiết để có thể làm theo nhu cầu và yêu cầu của khách hàng; tối ưu hóa mạng lưới hàng hóa , dịch vụ làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng; và tận dụng mạng lưới này làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng đúng hẹn. Đặc điểm của logistics 1. Logistics là một dịch vụ Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp, dịch vụ, đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là các bộ phận tạo thành chuỗi logistics. Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất.
Tuy nghiên trong hoạt động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác của logistics. Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải và giao nhận Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm. Từ chỗ thay mặt khách hàng để thực hiện các công việc đơn điệu, lẻ tẻ, tách biệt như : thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói, tái chế hàng, làm thủ tục thông quan.
cho tới cung cấp trọn gói một dịch vụ vận chuyển từ kho đến kho (Door to Door) đúng nơi, đúng lúc dể phục vụ nhu cầu khách hàng. Từ chỗ đóng vai trò là đại lý, người được ủy thác trở thành một bên chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chính đối với những hành vi của mình. Không phải như trước kia chỉ cần dăm ba xe tải, một vài kho chứa hàng…là có thể triển khai cung cấp dịch vụ vận tải giao nhận cho khách hàng. Ngày nay, do yêu cầu về dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng đa dạng, phong phú, người cung cấp dịch vụ 9 phải tổ chức quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận đến vận tải, cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi , kiểm tra… 1.
Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức Trước đây, hàng hóa đi từ nước người bán sang nước người mua dưới nhiều hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều người vận tải và nhiều phương thức vận tải khác nhau, vi vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa rất lớn và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau, trách nhiệm của mỗi người vận tải theo đó chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà anh ta đảm nhiệm.