Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ giáo dục của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giáo dục. Chương 2: Thực trạng dịch vụ và phát triển dịch vụ giáo dục của Công ty Cổ phần Tập đoàn giáo dục Egroup. Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển dịch vụ giáo dục của Công ty Cổ phần Tập đoàn giáo dục Egroup. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ GIÁO DỤC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CUNG CẤP DỊCH VỤ GIÁO DỤC 1.
Khái niệm về giáo dục và phát triển dịch vụ giáo dục 1. Khái niệm giáo dục Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người. Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng và nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt.” Các thế hệ đi trước thông qua giáo dục để truyền đạt lại những bài học, kinh nghiệm đúc rút trong quá trình sinh sống, lao động, tồn tại và phát triển, tích lũy thông qua những bài học truyền đạt lại cho những thế hệ sau học hỏi, phát huy và tiếp tục cải tiến.
Giáo dục đã tồn tại qua nhiều thế hệ trong những nền văn hóa từ rất lâu đời, là một chức năng sinh hoạt quan trọng trong xã hội, truyền đạt cho thế hệ sau kinh nghiệm, kiến thức để chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và phát triển sau này. “Theo thư viện học liệu mở Việt Nam: Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, thông qua giáo dục người dạy hướng tới mục đích khơi gợi và hoặc biến đổi khả năng, nhận thức, thái độ, tình cảm của người học theo hướng tích cực. Góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, thông qua giáo dục người học lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình trong xã hội. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.
Những trải nghiệm có ảnh 9 hưởng lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận hoặc hành động đều có thể xem là có tính giáo dục.” “Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ cho rằng: Cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất. Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là khả năng của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy”.
Hà Thị Mai (tháng 12 năm 2013) trong giáo trình giáo dục học đại cương cho rằng: “Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách. Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người, quá trình này hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân. Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất, nhân cách.
Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm, tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống hoạt động và giao lưu.” Mục tiêu sâu xa mà giáo dục muốn hướng đến là sự hoàn thiện của các cá nhân trong xã hội với đầy đủ kiến thức, kỹ năng, cần thiết, qua đây cũng thể hiện vai trò và trách nhiệm của thế hệ đi trước trong việc truyền dạy, dẫn dắt, chỉ hướng 10 để các thế hệ đi sau hoàn thiện hơn, phát triển hơn, giáo dục trở thành hoạt động quan trọng thúc đẩy phát triển con người và xã hội. Vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng hơn khi yêu cầu của xã hội đòi hỏi ở con người ngày càng cao hơn để đáp ứng cho sự phát triển. Khái niệm về dịch vụ giáo dục Khái niệm dịch vụ giáo dục có nghĩa rộng bao quát chung và nghĩa hẹp là các dịch vụ cụ thể.
Theo nghĩa rộng dịch vụ giáo dục coi toàn bộ hoạt động giáo dục thuộc khu vực dịch vụ nằm trong tương quan với hai khu vực khác là công nghiệp và nông nghiệp.“Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS - General Agreement on Trade in Services)”mà Việt Nam đã ký kết khi tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO cũng đã xếp giáo dục vào lĩnh vực dịch vụ. Nghĩa hẹp của khái niệm dịch vụ giáo dục gắn với các hoạt động giáo dục cụ thể. Quá trình giáo dục được thực hiện với sự tham gia của rất nhiều các yếu tố, quá trình khác nhau, có thể là vật chất như cơ sở vật chất, trang thiết bị,. có thể là phi vật chất như quá trình truyền thụ tri thức, giảng dạy trực tiếp,.
có thể là chứa đựng cả hai yếu tố vật chất và phi vật chất như nội dung chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục,. Các yếu tố, quá trình giáo dục phi vật thể được gọi là dịch vụ thuần, các sản phẩm là hàng hóa vật thể gọi là hàng hóa thuần, còn các sản phẩm chứa đựng cả yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất được gọi chung là hàng hóa dịch vụ không thuần. Vì vậy, trong giáo dục có rất nhiều các loại dịch vụ cụ thể phục vụ cho nhà trường, phục vụ cho người dạy, phục vụ cho người học, phục vụ cho quá trình giáo dục. Đặc điểm của dịch vụ giáo dục Dịch vụ giáo dục có những đặc điểm được đề cập như sau: - Tính tương tác, đặc điểm này thể hiện sự tương tác, kết nối, phản hồi thông tin hai chiều giữa người dạy và người học.
Người dạy cung cấp kiến thức, người học tiếp thu và phản hồi lại thông tin cho người dạy, thông qua các hình thức kiểm tra người học phản hồi lại cho người dạy mức độ tiếp thu kiến thức của mình. Ngoài ra, tính tương tác cũng thể hiện ở chất lượng học tập thu được đến từ hai phía, cả 11 người dạy và người học, học viên không thể có kết quả học tập tốt nếu chất lượng giáo viên không đảm bảo, ngược lại, chất lượng giáo viên tốt nhưng học viên chểnh mảng, không chịu học thì cũng không thu được kết quả học tập tốt. - Đặc điểm thứ hai là rất khó để đánh giá chất lượng giáo dục, các sản phẩm mà dịch vụ giáo dục tạo ra là phi vật chất, vì thế không thể xác định chất lượng giáo dục trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa, việc đánh giá chất lượng dịch vụ giáo dục trở nên khó khăn và khó tiêu chuẩn hóa. Việc đánh giá thường được tiến gián tiếp thông qua việc đánh giá trường, lớp, tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục.
- Đặc điểm thứ ba, kết quả học là của cả quá trình. Ví dụ việc học ngoại ngữ muốn nói được trôi chảy học viên phải học ngữ âm trước, rồi học từ, học câu. Như vậy, để có kết quả là nói được ngoại ngữ thuần thục, người học phải trải qua một quá trình học. - Đặc điểm thứ tư là quy mô lớp học biến động ngược chiều với chất lượng học tập.
Điều này thể hiện trong việc thụ hưởng dịch vụ giáo dục là việc học của người này sẽ ảnh hưởng đến việc học của người khác. Số lượng lớp học trong một trường, số lượng học viên trong một lớp bị hạn chế, nếu thêm một người vào lớp học quá đông thì việc học và chất lượng học tập của những người khác bị ảnh hưởng. Phân loại dịch vụ giáo dục 1. Theo phân ngành của GATS “Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS – General Agreement on Trade in Services) của tổ chức thương mại thế giới WTO, dịch vụ giáo dục được phân thành năm phân ngành: - Dịch vụ giáo dục tiểu học (Primary education services) - Dịch vụ giáo dục trung học (Secondary education services) - Dịch vụ giáo dục đại học (Higher education services) - Giáo dục cho người lớn (Adult education) - Các dịch vụ giáo dục khác (Other education services) 12 GATS cho phép các thành viên được quyền lựa chọn không tự do hóa lĩnh vực dịch vụ giáo dục nào hoặc mở cửa thị trường đối với những lĩnh vực dịch vụ giáo dục cụ thể.
Cho đến nay, không có một nước thành viên nào của GATS cam kết mở cửa toàn phần thị trường dịch vụ giáo dục. Mỗi nước đều có thể đặt ra những giới hạn nào đó đối với việc mở cửa thị trường giáo dục. Khi tham gia WTO và GATS, Việt Nam chỉ cam kết mở cửa giáo dục ở các lĩnh vực kỹ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, quản trị kinh doanh và khoa học kinh doanh, kinh tế học, kế toán, luật quốc tế và đào tạo ngôn ngữ.