Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành, phát triển các cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta 1. Lý luận chung về sự hình thành và phát triển các cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khái niệm cụm, điểm công nghiệp Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển của đất nước thì khái niệm cụm công nghiệp, điểm công nghiệp được ra đời từ khi có quyết định số 132/2000/QĐ-TTG ngày 24/11/2000 của Thủ Tướng chính phủ về một số ngành nghề nông thôn. Như vậy cụm, điểm công nghiệp có thể được hiểu như sau: Cụm công nghiệp: là một không gian địa lý, là nơi tập trung sản xuất kinh doanh và dịch vụ phục vụ công nghiệp của các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tách biệt với khu dân cư, có hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật chung được xây dựng đồng bộ, bảo đảm đầy đủ các điều kiện để sản xuất thuận lợi, an toàn và bền vững.
Cụm công nghiệp có thể nằm trong địa bàn một hoặc một số huyện do uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập; khi lập quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp phải bảo đảm việc kết nối đồng bộ giữa các công trình kỹ thuật hạ tầng trong và ngoài hàng rào, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất và có một hệ thống hạ tầng xã hội tương ứng. Điểm công nghiệp: là không gian địa lý, nơi sản xuất và dịch vụ phục vụ cho sản xuất của các cơ sở ngành nghề ở địa phuơng (hộ gia đình, các cá nhân, tổ, nhóm hợp tác, hợp tác xã) và trong trưòng hợp cụ thể có thể có một số doanh nghiệp quy mô nhỏ tại địa phương đó các các ngành nghề phù hợp mục tiêu của điểm công nghiệp; tách bạch với khu dân cư, có hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung được xây dựng đồng bộ bảo đảm đầy đủ các điều vii kiện để sản xuất thuận lợi, an toàn và bền vững. Điểm công nghiệp chủ yếu trong địa bàn một xã (phường thị trấn), do uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định sau khi có ý kiến chấp thuận về chủ trương của UBND tỉnh. Phân biệt: cụm công nghiệp và điểm công nghiệp Giống nhau: Về mục đích: là nơi tập trung sản xuất kinh doanh công nghiệp trong một không gian địa lý đảm bảo cho sự phát triển đúng định hướng của chính quyền địa phương: quy hoạch vùng kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững.
Về cách thức tổ chức: có sự tách bạch với khu dân cư, có một hệ thống hạ tầng kỹ thuật chung được xây dựng đồng bộ bảo đảm đầy đủ các điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất thuận lợi nhất, an toàn nhất. Khác nhau: Về cấp quản lý: Cụm công nghiệp do UBND tỉnh ra quyết định thành lập và quản lý, điểm công nghiệp do UBND huyện thành lập và quản lý. Về quy mô: Cụm công nghiệp có quy mô lớn hơn điểm công nghiệp Về trình độ sản xuất: Cụm công nghiệp có tính chất đa ngành, đa nghề, khả năng liên kết và trình độ công nghệ cao. Điểm công nghiệp có trình độ công nghệ thấp, sản phẩm gắn với các sản phẩm truyền thống của làng nghề.
Phân biệt cụm, điểm công nghiệp với các khu công nghiệp, khu chế xuất. Khu chế xuất: là “khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập”. Khu công nghiệp: là “khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc viii Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất”.
Phân biệt cụm, điểm công nghiệp với KCN, khu chế xuất: Giống nhau: Là địa điểm sản xuất kinh doanh và dịch vụ của các đơn vị kinh tế, tách biệt với khu dân c có chung hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đảm bảo sản xuất an toàn thuận lợi và bền vững. Khác nhau: Về quản lý: Khu công nghiệp, khu chế xuất do chính phủ quyết định thành lập và quản lý. Cụm, điểm công nghiệp do chính quyền địa phương quyết định thành lập và quản lý và khác hoàn toàn với khái niệm khu chế xuất – chủ yếu liên quan đến vấn đề nước ngoài. Về quy mô: khu công nghiệp có quy mô lớn, Cụm điểm công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, giới hạn trong địa phương một tỉnh, huyện, hoặc xã.
Về trình độ sản xuất: Khu công nghiệp, khu chế xuất có trình độ sản xuất hiện đại, Cụm điểm công nghiệp là hình thức biểu hiện thấp của khu công nghiệp, có trình độ sản xuất ở mức trung bình. Vai trò của cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụm điểm công nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Phát triển cụm điểm công nghiệp sẽ: Huy động vốn đầu tư phát triển, giải quyết việc làm lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học –công nghệ, nâng cao hiệu quả kinh tế 1. Nhân tố tác động và sự cần thiết phát triển cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1. Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển các cụm điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Có 6 nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cụm, điểm công nghiệp.
Đó là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của ix khoa học công nghệ, tính đa dạng của sản xuất hàng hoá, vai trò của Nhà nước, tiềm năng phát triển làng nghề ở các địa phương, sự phát triển của kinh tế thị trường, quá trình hội nhập và tác động của hội nhập 1. Sự cần thiết phát triển cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Quá trình phát triển cụm điểm công nghiệp là quá trình phát triển có tính chất “tuần tự”, đi từ sản xuất thủ công là chính sang sản xuất hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến. Do đó, việc phát triển các cụm điểm công nghiệp là cần thiết, xuất phát từ các yếu tố sau: Yêu cầu giải phóng sức sản xuất, yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế, hướng phát triển và việc thành lập các cụm, điểm công nghiệp, Cụm, điểm công nghiệp đã góp phần nhất định vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, Nhà nước tổ chức thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy quá trình tập trung hoá sản xuất 1. Nội dung quản lý Nhà nước với sự phát triển cụm điểm công nghiệp Quản lý Nhà nước bao gồm các nội dung sau: - Xây dựng chiến lược phát triển cụm, điểm công nghiệp - Hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế - Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội - Chính sách quản lý thích hợp, thuận lợi cho nhà đầu tư, về xúc tiến và vận động đầu tư 1.
Kinh nghiệm phát triển về cụm, điểm công nghiệp Luận văn đi vào tìm hiểu các kinh nghiệm trong quá trình phát triển của một số nước trên thế giới và một số tỉnh lân cận tỉnh Hà Tây. Đó là: chính sách phát triển khu, cụm, điểm công nghiệp ở Đài Loan; ở Thái Lan; ở Malaixia; Chính sách phát triển đặc khu kinh tế ở Trung Quốc.; Phát triển cụm điểm công nghiệp tại Tỉnh Nam Định và Hải Dương. Đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước và một số địa phương về phát triển cụm x điểm công nghiệp. xi Chương 2 Thực trạng phát triển các cụm, điểm công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở hà tây 2.
Đặc điểm tự nhiên, xã hội, Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở Hà Tây Hà Tây là một tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, diện tích đất tự nhiên: 2192,07km2, Hà Tây nằm ở vị trí bao quanh Thủ đô Hà Nội, có địa hình đa dạng, bao gồm vùng núi cao, vùng đồi thấp và vùng đồng bằng thấp trũng. Tỉnh Hà Tây nằm trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ mang đặc thù của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Tỉnh Hà Tây có các sông lớn là: Sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Bùi và sông Nhuệ.
Hà Tây có một số khoáng sản chính: đá vôi, đá Granít ốp lát, sét, cao lanh, vàng gốc và sa khoáng, Đồng, nước khoáng 2.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội ở Hà Tây. Hà Tây có 14 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Hà Đông, Sơn Tây và 12 huyện thị là: Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Quốc Oai, Hoài Đức, Thường Tín, ứng Hoà. Phú Xuyên, Chương Mỹ, Mỹ Đức. Dân số khoảng 2.5 triệu người, có 7 xã miền núi, 3 dân tộc là Kinh, Mường, Dao.1: Về chuyển dịch cơ cấu Công nghiệp - Xây dựng Đơn vị TH 2001 TH 2002 TH 2003 TH 2004 TH 2005 TH 2006 Chỉ tiêu tính 1.
Công nghiệp - % 33,87 34,59 36,6 37,1 38,1 40,04 Xây dựng. Du lịch - dịch vụ % 29,5 29,51 29,27 29,29 30 30,4 (Nguồn: Báo cáo rà soát điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp tỉnh Hà Tây đến năm 2010, định hướng đến năm 2020) Kinh tế công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá xii cao, năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế được tăng cường, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,87%(2001- 2005), năm 2006 đạt 24,04%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,58%; tư nhân tăng 21,36%; khu vực kinh tế nhà nước tăng 12,2%.2: Kết quả sản xuất công nghiệp Hà Tây 2001-2006 12.000,00 30 Nhịp độ tăng trưởng 10. Giá trị SXCN Tỷ đồng 6. Nhịp độ tăng trưởng 4.000,00 5 0,00 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Năm (Nguồn: Báo cáo rà soát điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp tỉnh Hà Tây đến năm 2010, định hướng đến năm 2020) Trong những năm gần đây( 2001- 2006) Hà Tây là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòng trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, bộ mặt nông thôn, đô thị không ngừng đổi mới.
Hà Tây đang từng bước trở thành tỉnh công nghiệp, có trình độ tiến tiến trong các tỉnh thuộc vùng kinh tếa trọng điểm phía Bắc.