Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Ngọc Quỳnh, chuyên ngành Quy hoạch phát triển thuộc Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Ngọc Trụ vào năm 2019. Đề tài thuộc lĩnh vực kinh tế phát triển và quy hoạch kinh tế - xã hội vùng lãnh thổ, thuộc loại hình nghiên cứu thực trạng và hoạch định chính sách phát triển.

Lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vai trò của sản xuất công nghiệp đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, công nghiệp giữ vị trí ngành kinh tế chủ đạo, tạo ra của cải vật chất, cung cấp tư liệu sản xuất và giải quyết việc làm. Tỉnh Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, đồng thời thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và Vùng Duyên hải Bắc Bộ. Những năm gần đây, Quảng Ninh là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, hạ tầng khu công nghiệp và khu kinh tế từng bước được mở rộng. Tuy nhiên, tỉnh đặt ra mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "dịch vụ - công nghiệp", chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh", ưu tiên các ngành công nghiệp công nghệ cao và hạn chế tối đa các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Việc nghiên cứu thực trạng phát triển công nghiệp để xác định các điểm nghẽn và xây dựng luận cứ giải pháp quy hoạch là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng ngành công nghiệp tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đồng bộ đến năm 2030 đảm bảo hài hòa hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.

Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành công nghiệp.
  2. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh.
  3. Phân tích thực trạng phát triển của ngành công nghiệp tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010 – 2017.
  4. Xác định định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển ngành công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình phát triển công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh, đặt trong mối liên hệ so sánh với các tỉnh, thành phố lân cận trong khu vực.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Quảng Ninh gồm 14 đơn vị hành chính cấp huyện: 4 thành phố (Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái), 2 thị xã (Đông Triều, Quảng Yên) và 8 huyện (Vân Đồn, Tiên Yên, Hoành Bồ, Hải Hà, Cô Tô, Đầm Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ).
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận sử dụng chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2010 – 2017, số liệu điều tra thu thập đến năm 2018; tầm nhìn định hướng và giải pháp được xây dựng đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về công nghiệp từ Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển tiếng Việt và Tổ chức Liên Hợp Quốc (UN). Trong đó, quan niệm của Liên Hợp Quốc xác định công nghiệp là tập hợp các hoạt động sản xuất thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm, bao gồm ba phân khúc: khai thác tài nguyên, chế biến và dịch vụ sản xuất phụ trợ. Về phân loại, khóa luận trình bày các cách phân chia theo yêu cầu công nghệ (công nghệ cao và công nghiệp còn lại), theo lịch sử hình thành (hiện đại và truyền thống), theo công dụng kinh tế (nhóm A - công nghiệp nặng, nhóm B - công nghiệp nhẹ), và phân loại theo đối tượng tác động (công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến).

Khung lý thuyết về cơ cấu công nghiệp được phân tích sâu ở 3 bộ phận cấu thành:

  • Cơ cấu công nghiệp theo ngành: Phân chia theo 4 nhóm ngành chuẩn của Tổng cục Thống kê (dựa trên chuẩn Liên Hợp Quốc) gồm: (i) Công nghiệp khai khoáng; (ii) Công nghiệp chế biến, chế tạo; (iii) Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; (iv) Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải; đồng thời đối chiếu hệ thống ngành cấp 2 theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế: Gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
  • Cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ: Bố trí không gian sản xuất theo địa giới hành chính và các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp như khu công nghiệp (KCN) và trung tâm công nghiệp.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá được tác giả xác lập gồm: Tỷ trọng GDP công nghiệp trong tổng GDP địa phương ($Đ_{GDP} = \frac{GDP_{CNT}}{GDP_T} \times 100%$), tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh, quy mô lao động công nghiệp, cùng các cơ cấu giá trị sản xuất phân theo ngành, thành phần và địa bàn.

Khóa luận áp dụng 3 phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017, số liệu từ Cổng thông tin Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND tỉnh, tài liệu của Tổng cục Thống kê và các nghiên cứu khoa học liên quan.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân tích các chỉ tiêu theo chuỗi thời gian 2010 – 2017, so sánh liên ngành, so sánh cơ cấu thành phần kinh tế và so sánh đối chiếu chỉ số phát triển của Quảng Ninh với các tỉnh, thành phố trong Vùng Đồng bằng Sông Hồng (Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội...).
  • Phương pháp dự báo: Dựa trên phân tích thực trạng, bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế để dự báo xu thế và xác lập định hướng phát triển công nghiệp địa phương đến năm 2030.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về vai trò và đặc điểm của sản xuất công nghiệp. Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm cốt lõi của công nghiệp: (1) Luôn gắn liền với máy móc và khoa học - kỹ thuật, khiến chu kỳ đổi mới sản phẩm diễn ra nhanh chóng; (2) Có mức độ tập trung hóa, chuyên môn hóa và hợp tác hóa rất cao, cho phép tối ưu hóa hiệu quả kinh tế theo quy mô; (3) Tiêu thụ nguyên liệu đầu vào lớn và phát sinh lượng phát thải cao ra môi trường tự nhiên; (4) Có tính linh động cao về mặt phân bố không gian, ngoại trừ công nghiệp khai khoáng buộc phải phụ thuộc vào vị trí mỏ tài nguyên.

Về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, chương này luận giải 2 cơ chế chuyển dịch chính: chuyển dịch theo tín hiệu thị trường (tự phát, dễ gặp rủi ro do thông tin bất đối xứng) và chuyển dịch có chủ đích (có sự điều tiết, quy hoạch và ban hành chính sách ưu tiên của Nhà nước). Tác giả phân tích cụ thể 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới phát triển công nghiệp: vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ; điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; dân cư và nguồn lao động; cơ sở hạ tầng - kỹ thuật; khoa học - công nghệ; vốn đầu tư; và thể chế kinh tế.

Phần thực tiễn phân tích kinh nghiệm phát triển công nghiệp tại 2 địa phương lân cận:

  • Tỉnh Bắc Ninh: Phát triển 16 khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch 5.111,5 ha (trong đó diện tích đất cho thuê đạt 3.000 ha); có 9 KCN đã đi vào hoạt động với diện tích 2.872,98 ha, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất quy hoạch đạt 70,18% và trên diện tích thu hồi đạt 82,73%. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 373.029 tỷ đồng (2012) lên 705.292 tỷ đồng (2016), tăng trưởng bình quân 17,26%/năm, đứng thứ 2 cả nước (sau TP. Hồ Chí Minh). Ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng áp đảo từ 99,8% (2012) lên 99,88% (2016) nhờ động lực từ các tập đoàn FDI lớn như Samsung.
  • Thành phố Hải Phòng: Số lượng doanh nghiệp công nghiệp tăng bình quân 6,08%/năm (từ 1.482 doanh nghiệp năm 2011 lên 1.750 doanh nghiệp năm 2016). Cơ cấu ngành dịch chuyển rõ rệt: ngành sản xuất phương tiện vận tải tăng bình quân 8,06%/năm, chiếm tỷ trọng 10,46% giá trị sản xuất; công nghiệp đóng tàu phục hồi đạt 4,18% (năm 2016); sản xuất kim loại chiếm 11,62%; sản xuất vật liệu xây dựng (xi măng) tăng bình quân 3,99%/năm, chiếm 6,13%; và công nghiệp chế biến thực phẩm - đồ uống tăng trưởng 14,31%/năm, chiếm 5,96%.

Từ hai mô hình trên, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho Quảng Ninh: Cần khai thác đồng bộ lợi thế lao động và hạ tầng logistics cảng biển, chủ động thu hút các tập đoàn quy mô lớn để thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, đồng thời quy hoạch các ngành công nghiệp phải gắn chặt với bảo vệ môi trường sinh thái.

Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2017

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng nền công nghiệp tỉnh Quảng Ninh qua hệ thống các nhân tố tác động và số liệu thống kê giai đoạn 2010 – 2017:

  1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên:
  • Quảng Ninh có diện tích đất liền 6.178,2 km², tổng diện tích đất liền và hải đảo là 12.202,4 km²; có hơn 2.000 hòn đảo (chiếm 2.077/2.779 đảo của cả nước); bờ biển dài hơn 250 km và trên 40.000 ha eo vịnh. Phía Bắc giáp Trung Quốc với 118,8 km đường biên giới đất liền và 3 cửa khẩu (Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh). Địa hình có trên 80% là đồi núi, khí hậu chịu ảnh hưởng của 5–6 cơn bão/năm, gây cản trở và rủi ro sạt lở cho hệ thống giao thông đường bộ và các mỏ khai khoáng hầm lò.
  • Tài nguyên khoáng sản: Bể than đá lớn nhất cả nước với tổng tài nguyên ước đạt 8,8 tỷ tấn trải dài 130 km (từ Đông Triều đến Cẩm Phả), trong đó trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn thuộc dòng than Anthraxit có hàm lượng cacbon cao (80–90%), sản lượng khai thác hàng năm từ 30 – 40 triệu tấn. Tài nguyên phi kim gồm các mỏ đá vôi tại Hoành Bồ, Cẩm Phả; cao lanh tại Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, Móng Cái; đất sét tại Đông Triều, Hoành Bồ, Hạ Long; tài nguyên rừng có 243.833,2 ha (rừng tự nhiên chiếm 80%).
  1. Nhân tố kinh tế - xã hội:
  • Dân số toàn tỉnh tăng từ 1.158,8 nghìn người (2010) lên 1.258,1 nghìn người (2017), mật độ dân số đạt 203,6 người/km². Dân số phân bố không đều, tập trung đông nhất tại TP. Hạ Long (240,8 nghìn người) và thấp nhất tại huyện Cô Tô (6,2 nghìn người).
  • Trình độ dân trí qua tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 97,2% vào năm 2017 (tăng từ 96,5% năm 2010). Khi so sánh với các tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng Sông Hồng, tỷ lệ biết chữ của Quảng Ninh luôn nằm ở nhóm thấp nhất khu vực (thấp hơn Hà Nội 98,7%, Hải Phòng 98,3%, Hưng Yên 98,6%, Thái Bình 98,6%).
Tỉnh/Thành phố 2010 (%) 2015 (%) 2016 (%) 2017 (%)
Hà Nội 97,8 98,5 98,7 98,7
Vĩnh Phúc 97,0 97,8 98,2 97,7
Bắc Ninh 96,5 97,5 97,5 97,7
Quảng Ninh 96,5 96,7 96,7 97,2
Hải Dương 97,4 98,2 98,5 98,0
Hải Phòng 98,1 98,2 98,1 98,3
Hưng Yên 95,5 98,0 98,3 98,6
Thái Bình 97,3 98,4 98,7 98,6
Hà Nam 97,0 98,2 98,4 98,1
Nam Định 96,6 98,0 97,8 98,1
Ninh Bình 96,5 97,8 97,9 97,5
  • Lao động phân theo thành phần kinh tế có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực:
Năm Tổng số (nghìn người) Khu vực Nhà nước (nghìn người) Khu vực ngoài Nhà nước (nghìn người) Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (nghìn người)
2010 642,3 141,5 497,5 3,3
2015 715,2 198,6 500,7 15,9
2016 710,0 199,1 498,1 12,8
2017 720,0 199,7 508,2 12,1

Lao động khu vực Nhà nước tăng đều từ 141,5 nghìn người (2010) lên 199,7 nghìn người (2017), chiếm 27,7% tổng lao động. Khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 70,6% (508,2 nghìn người năm 2017). Khu vực FDI chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chỉ đạt 1,7% năm 2017 (giảm từ mức đỉnh 15,9 nghìn người năm 2015 xuống 12,1 nghìn người năm 2017).

  • Về cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với 45,84%, tiếp đến là thương mại - dịch vụ (35,91%) và nông - lâm - ngư nghiệp (18,25%). Về tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo: Lao động nam tăng từ 33,5% (2010) lên 50,9% (2017); lao động nữ tăng từ 20,8% (2010) lên 32,0% (2017).
  1. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
  • Hạ tầng giao thông đường bộ: Có 5 tuyến Quốc lộ (381 km, chủ yếu cấp III và IV, có 32 km trên QL279 đạt cấp V); 12 tuyến đường tỉnh (301 km, có 51% đạt cấp III và IV); đường huyện có 764 km (tỷ lệ cứng hóa đạt 60%); đường xã có 2.233 km (tỷ lệ cứng hóa đạt 24%). Bến bãi gồm 16 bến xe khách (6 bến liên tỉnh hỗn hợp), 125 tuyến xe khách cố định liên tỉnh, 18 tuyến nội tỉnh và 11 tuyến xe buýt.
  • Giao thông đường thủy và cảng biển: Có 96 bến thủy nội địa và 642 km luồng. Hệ thống cảng biển có 5 cảng chính: Cảng Cái Lân (tiếp nhận tàu 3–4 vạn tấn), Cảng Cửa Ông (dài 300 m, sâu -9,5 m, đón tàu 50.000 DWT chuyên dùng xuất than), Cảng Vạn Gia (luồng dài 7 hải lý, sâu -7,5 m, tàu 10.000 DWT), Cảng Hòn Gai (sâu -16 m) và Cảng Mũi Chùa (sâu -3,3 m, đón tàu 1.000 tấn). Đường sắt có 65 km tuyến Kép - Hạ Long và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than.
  • Hạ tầng viễn thông: Toàn tỉnh có 1.436 trạm BTS của 5 nhà mạng di động. Trong đó có 76,5% trạm xây dựng trên mặt đất; 57% trạm sử dụng công nghệ 3G; tỷ lệ chia sẻ dùng chung hạ tầng cột ăng ten đạt 14%. Viettel là nhà mạng có số lượng trạm lớn nhất với 486 trạm (tập trung nhiều tại Hạ Long: 78 trạm, Cẩm Phả: 68 trạm, Móng Cái: 57 trạm, Đông Triều: 48 trạm). Sóng viễn thông tại các vùng biên giới, hải đảo và vùng lõi Vịnh Hạ Long vẫn còn yếu.
  1. Trình độ khoa học - công nghệ và nguồn vốn:
  • Ngành than đã ứng dụng vì neo phun bê tông, cột thủy lực đơn, giá chống thủy lực và máy liên hợp khấu than vào khai thác hầm lò. Ngành cơ khí ứng dụng công nghệ CNC nhưng chủ yếu phục vụ sửa chữa, phụ tùng cho ngành than. Ngành điện áp dụng công nghệ lò hơi đốt than phun tại Nhiệt điện Uông Bí và Nhiệt điện Quảng Ninh; công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn tại Nhiệt điện Cẩm Phả. Trừ Nhiệt điện Uông Bí do Lilama làm tổng thầu EPC nhập thiết bị Nga/Ukraine, các nhà máy nhiệt điện còn lại chủ yếu do nhà thầu Trung Quốc thực hiện, thiết bị thiếu đồng bộ, hiệu suất vận hành chỉ đạt mức trung bình 50%.
  • Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2017 đạt 60.597 tỷ đồng (tăng 10,2% so với 2016 và bằng 46,7% GRDP). Trong đó, vốn ngoài Nhà nước đạt 25.666 tỷ đồng (chiếm 42,3%), vốn Nhà nước đạt 22.886 tỷ đồng (chiếm 37,8%), và vốn FDI đạt 12.045 tỷ đồng (chiếm 19,9%). Vốn đầu tư dành cho khu vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 65,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 2017, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp - xây dựng tăng 7,5% (thấp hơn khu vực dịch vụ tăng 14,5%).

Đánh giá chung: Khóa luận chỉ ra ngành công nghiệp Quảng Ninh có đóng góp cốt lõi vào nguồn thu ngân sách nhưng bộc lộ nhiều hạn chế: phụ thuộc lớn vào tài nguyên hữu hạn (khai khoáng than, vật liệu xây dựng); công nghệ nhiều cơ sở còn lạc hậu gây ô nhiễm môi trường; khu vực công nghiệp FDI phát triển chậm và sử dụng ít lao động (1,7%); hạ tầng cảng biển và giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh.

Chương 3: Giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030

Dựa trên kết quả dự báo các nhân tố ảnh hưởng và định hướng chuyển đổi mô hình kinh tế, tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp quy hoạch phát triển công nghiệp:

  • Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng – kỹ thuật: Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống đường cao tốc kết nối liên vùng, nâng cấp các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ huyết mạch; cải tạo mạng lưới giao thông đường huyện, đường xã; đầu tư nạo vét luồng hàng hải, mở rộng hệ thống cảng biển nước sâu Cái Lân và hạ tầng kỹ thuật dùng chung tại các KCN, khu kinh tế ven biển.
  • Nhóm giải pháp về nguồn lao động: Đẩy mạnh đào tạo nghề kỹ thuật và công nghệ cao, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo; liên kết giữa các trường cao đẳng, đại học với doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn; xây dựng chính sách tiền lương, nhà ở để thu hút và giữ chân thợ bậc cao, kỹ sư giỏi.
  • Nhóm giải pháp về khoa học - công nghệ: Tăng cường cơ giới hóa và tự động hóa trong khai thác than hầm lò; hỗ trợ các doanh nghiệp cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng chuyển giao công nghệ mới; hiện đại hóa công nghệ giám sát và xử lý khí thải tại các nhà máy nhiệt điện, nâng cao hiệu suất phát điện.
  • Nhóm giải pháp về vốn: Tối ưu hóa vốn đầu tư công vào các công trình hạ tầng khung; đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ngoài nhà nước; tập trung thu hút FDI chọn lọc vào các ngành chế biến, chế tạo công nghệ cao, công nghiệp sạch.
  • Nhóm giải pháp về chính sách: Cải cách thủ tục hành chính, duy trì chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); xây dựng các quy chế ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp đầu tư vào cụm công nghiệp và vùng khó khăn.
  • Nhóm giải pháp về bảo vệ môi trường: Thực hiện nghiêm túc quy trình hoàn nguyên môi trường tại các bãi thải mỏ than; kiểm soát phát thải bụi và khí thải công nghiệp; kiên quyết dừng hoạt động các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng cũ kỹ, lạc hậu đe dọa cảnh quan môi trường du lịch và Vịnh Hạ Long.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về nền công nghiệp tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn 2010 – 2017 bằng chuỗi số liệu thống kê cụ thể:

  • Phản ánh chính xác tỷ trọng lực lượng lao động công nghiệp đang chiếm ưu thế vượt trội trong cơ cấu kinh tế tỉnh (chiếm 45,84% tổng số lao động).
  • Phân tích chi tiết dòng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2017 đạt 60.597 tỷ đồng, trong đó công nghiệp hấp thụ tới 65,2% tổng nguồn vốn, phản ánh sự tập trung đầu tư lớn của địa phương vào ngành này.
  • Đưa ra các phát hiện về hạn chế kỹ thuật: Trình độ công nghệ của các nhà máy nhiệt điện đốt than phần lớn do nhà thầu Trung Quốc thi công, thiếu tính đồng bộ và hiệu suất vận hành thực tế mới chỉ đạt 50%; khu vực FDI tuy thu hút vốn nhưng đóng góp giải quyết việc làm còn rất khiêm tốn (chỉ chiếm 1,7% tổng lao động toàn tỉnh năm 2017).
  • Về mặt quy hoạch phát triển, khóa luận đã xây dựng được hệ thống 6 nhóm giải pháp liên hoàn, bao hàm từ cơ sở hạ tầng, nhân lực, công nghệ đến thể chế chính sách và xử lý môi trường, làm cơ sở khoa học để địa phương chuyển dịch từ công nghiệp thâm dụng tài nguyên sang công nghiệp sạch và công nghệ cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Khóa luận phản ánh một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu tại thời điểm năm 2019:

  • Tác giả tự nhìn nhận trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế, các chuỗi số liệu chi tiết phân theo nhóm ngành cấp 2 và số liệu doanh nghiệp cụ thể chỉ cập nhật đến năm 2016 – 2017 từ Niên giám thống kê 2017.
  • Khóa luận chưa tiếp cận và khai thác sâu được các dữ liệu kiểm toán nội bộ, báo cáo tài chính vi mô của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các tổng công ty phát điện trên địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần tiếp tục cập nhật và đánh giá biến động cơ cấu ngành công nghiệp của tỉnh Quảng Ninh sau năm 2018, đặc biệt là tác động khi tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn và Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đi vào khai thác thực tế.
  • Bổ sung đánh giá chuyên sâu về tác động của quá trình chuyển dịch năng lượng xanh, cam kết giảm phát thải khí nhà kính và lộ trình đóng cửa các mỏ than lộ thiên đối với cơ cấu kinh tế địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quy hoạch phát triển, Kinh tế phát triển, Địa lý kinh tế và Quản lý công khi tìm kiếm mô hình nghiên cứu thực tiễn cấp tỉnh về công nghiệp hóa.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương) có thể tham khảo hệ thống dữ liệu chi tiết về dân số, lao động, hạ tầng cảng biển và mạng lưới trạm BTS viễn thông phục vụ công tác quy hoạch kinh tế - xã hội.
  • Phần phân tích kinh nghiệm thu hút đầu tư KCN của Bắc Ninh và Hải Phòng cung cấp luận cứ thực tiễn tốt cho các đề tài nghiên cứu liên kết vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Trữ lượng và đặc điểm tài nguyên than đá tại Quảng Ninh được khóa luận ghi nhận như thế nào? Quảng Ninh có bể than lớn với tổng tài nguyên ước đạt 8,8 tỷ tấn, phân bố trên dải địa hình dài 130 km từ Đông Triều đến Cẩm Phả. Trong đó, trữ lượng xác định khoảng 3,6 tỷ tấn (nằm ở độ sâu dưới 300 m), chủ yếu là than Anthraxit có hàm lượng cacbon cao và ổn định từ 80 – 90%. Sản lượng khai thác bình quân hàng năm đạt từ 30 – 40 triệu tấn.

Cơ cấu lao động theo loại hình kinh tế tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2017 có đặc trưng gì? Lao động khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất và biến động quanh mức 70,6% (đạt 508,2 nghìn người năm 2017). Khu vực Nhà nước tăng đều từ 141,5 nghìn người (2010) lên 199,7 nghìn người (2017), chiếm 27,7%. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng rất thấp, đạt đỉnh vào năm 2015 với 15,9 nghìn người rồi giảm dần xuống 12,1 nghìn người vào năm 2017 (chỉ chiếm 1,7% tổng lao động).

Tác giả đánh giá hiện trạng công nghệ của các nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh ra sao? Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí và Nhiệt điện Quảng Ninh áp dụng công nghệ lò hơi than phun, còn Nhiệt điện Cẩm Phả dùng công nghệ tầng sôi tuần hoàn. Ngoại trừ Nhiệt điện Uông Bí do Lilama làm tổng thầu EPC nhập thiết bị chính từ Nga và Ukraine, các dự án còn lại đều do nhà thầu Trung Quốc thực hiện với trang thiết bị thiếu tính đồng bộ, vận hành không thường xuyên và hiệu suất trung bình đạt khoảng 50%.

Khóa luận đưa ra bài học kinh nghiệm gì cho Quảng Ninh từ mô hình phát triển công nghiệp Bắc Ninh? Tác giả chỉ ra Bắc Ninh đạt mức tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp 17,26%/năm và tỷ trọng công nghiệp chế biến đạt 99,88% nhờ chiến lược phát triển 16 KCN tập trung, đạt tỷ lệ lấp đầy đất quy hoạch 70,18% và thu hút các tập đoàn FDI công nghệ cao như Samsung. Từ đó, Quảng Ninh cần hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp, chủ động đón các dự án công nghiệp chế biến chế tạo lớn để giảm bớt sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản thô.

Quy mô tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và vốn dành cho ngành công nghiệp tỉnh Quảng Ninh năm 2017 đạt bao nhiêu? Năm 2017, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 60.597 tỷ đồng (bằng 46,7% GRDP tỉnh), trong đó khu vực ngoài Nhà nước chiếm 42,3%, khu vực Nhà nước chiếm 37,8% và khu vực FDI chiếm 19,9%. Riêng vốn đầu tư rót vào ngành công nghiệp chiếm tới 65,2% trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh đã tái hiện bức tranh phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 – 2017 trên cơ sở phân tích chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội, tài nguyên thiên nhiên và hạ tầng kỹ thuật. Nghiên cứu chỉ ra những mâu thuẫn nội tại giữa vị thế ngành công nghiệp trụ cột thâm dụng tài nguyên với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế xanh bền vững của địa phương. Hệ thống 6 nhóm giải pháp quy hoạch đến năm 2030 được đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quản lý phát triển kinh tế vùng lãnh thổ.