Chương 1 Những vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lý luận về tài chính. Đối với mọi quốc gia, yêu cầu phát triển kinh tế luôn đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó phải xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành kinh tế, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, cơ cấu đó không chỉ giới hạn ở quan hệ giữa các ngành, các vùng hay các thành phần kinh tế và có tính cố định, mà nó luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển nhất định. Trong điều kiện nước ta hiện nay, khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước, việc cải tổ, xây dựng lại cơ cấu kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Do vậy, để có thể đề ra những giải pháp tích cực cho việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết chúng ta cần tìm hiểu những vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế. Khái niệm cơ cấu kinh tế. Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, Karl Marx đã chỉ rõ, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phải phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất.
Marx còn nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu kinh tế phải chú ý đến cả hai khía cạnh chất lượng và số lượng. Theo ông, cơ cấu là một sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của quá trình sản xuất xã hội. Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể rút ra khái niệm: Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nội dung cơ cấu kinh tế.
Nội dung cơ cấu kinh tế cần được phân tích trên hai phương diện: 1. Phương diện thứ nhất: Xét về mặt vật chất, kỹ thuật, cơ cấu kinh tế bao gồm: 1. Cơ cấu theo ngành nghề và lĩnh vực kinh tế: Phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nền kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các thành phần, song các ngành là cấu trúc cơ bản. Trong ngành và lĩnh vực thì hai lĩnh vực quan trọng nhất là nông nghiệp và công nghiệp. Hai ngành này muốn phát triển phải thông qua hệ thống dịch vụ. Như vậy, cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế bao gồm ba bộ phận cơ bản: - Nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp) là lĩnh vực sản xuất vật chất chủ yếu, tạo ra sản phẩm thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người; là ngành kinh tế xuất hiện sớm nhất trong lịch sử xã hội loài người và có phạm vi hoạt động rộng lớn nhất trên các đại lục của hành tinh chúng ta.
Ở hầu hết các quốc gia, một hiện tượng có tính quy luật là nông nghiệp, nông thôn luôn là khu vực chậm phát triển so với công nghiệp, dịch vụ và thành thị. Sự chênh lệch về mức độ phát triển của nông nghiệp so với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế có thể được nhận thấy trên nhiều mặt như mức độ hiện đại hóa, năng suất lao động, mức sống dân cư… Tuy vậy, nông nghiệp vẫn luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò đó thể hiện rõ nét trên những khía cạnh: nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm – nhu cầu tối cơ bản của con người; nông nghiệp, nông thôn là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; nông nghiệp cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo việc làm cho xã hội; nông nghiệp cung cấp một khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu, tạo ra tích lũy để tái sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân; nông nghiệp là khu vực cung cấp lao động phục vụ công nghiệp và các hoạt động khác của xã hội – xu hướng có tính quy luật trong phân công lại lao động xã hội; nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. 7 Dù trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, sản xuất nông nghiệp vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Đối với các nước đang phát triển như nước ta, nông nghiệp là ngành có liên quan trực tiếp đến việc làm, thu nhập và đời sống của đại đa số dân cư, vì vậy, nông nghiệp có tầm quan trọng hàng đầu đối với phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội. - Công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) là ngành sản xuất vật chất cơ bản của nền kinh tế quốc dân. Trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia. Công nghiệp là ngành sản xuất chủ đạo đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, bởi lẽ: + Công nghiệp đóng góp cao vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Sự đóng góp này có được do công nghiệp có năng suất lao động cao, giá trị gia tăng lớn và sự phát triển của công nghiệp không bị hạn chế như điều kiện phát triển của nông nghiệp. Nhờ sự tăng trưởng nhanh của công nghiệp mà cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. + Sự phát triển của công nghiệp tạo cơ sở thu hút lao động, giải quyết việc làm. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa có thể thu hút đáng kể lao động tăng thêm hàng năm vào các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Đến một giai đoạn nhất định sẽ tác động mạnh mẽ đến phân bổ lại lao động theo hướng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; từ nông thôn sang đô thị. Điều này không chỉ tạo điều kiện giải quyết việc làm mà còn tác động nâng cao năng suất lao động, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người lao động. + Công nghiệp là ngành chủ đạo trong đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế. Sự phát triển của công nghiệp với trình độ công nghệ hiện đại làm tăng đáng kể các giá trị gia tăng, đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế.
Công nghiệp sản xuất ra toàn bộ tư liệu lao động và các sản phẩm trung gian cần thiết không chỉ cho chính công nghiệp mà còn cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân khác. Chính các tư liệu sản xuất này, với trình độ khoa học - công nghệ hiện đại, trở thành nhân tố then chốt thúc đẩy năng suất lao động, tăng giá trị gia tăng và làm tăng tích lũy của các ngành kinh tế khác. Sự chủ đạo trong đóng góp vào tích lũy cho nền kinh tế của công nghiệp không chỉ bao gồm tích lũy vốn tài chính, mà còn bao gồm cả vốn vật chất 8 là các tư liệu sản xuất và cũng là quá trình tích lũy về khoa học – công nghệ gắn với tri thức và kinh nghiệm quản lý, là những điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế nhanh, bền vững trên nền tảng nguồn lực nội sinh. Trong điều kiện hội nhập hiện nay, sự phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại hóa làm cho nền kinh tế ngày càng mang tính cạnh tranh là cơ sở quan trọng để phát triển quan hệ hợp tác, liên kết khu vực một cách bình đẳng và có lợi.
- Dịch vụ là cầu nối giữa sản xuất công nghiệp với nông nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng; thực hiện vai trò trao đổi hàng hóa giữa các vùng, giữa thành thị với nông thôn, giữa trong nước và ngoài nước. Trong quá trình sản xuất, dịch vụ có vai trò đáp ứng đầy đủ các nhu cầu “đầu vào” và khả năng tiêu thụ sản phẩm - giải quyết “đầu ra”. Nói cách khác, dịch vụ thực hiện mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế. Do vậy, trình độ phát triển kinh tế hàng hóa càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu kinh tế càng lớn.
Dịch vụ tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy chuyên môn hóa, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất tăng năng suất lao động; đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng. Sự phát triển của dịch vụ làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả, đảm bảo sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm quốc dân, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Tóm lại, cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế là nội dung cơ bản của cơ cấu kinh tế. Chỉ số về tỷ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh tế hàng hóa của một nước.
Do đó, nghiên cứu cơ cấu kinh tế của một nước, trước hết phải nghiên cứu cơ cấu ngành và lĩnh vực kinh tế. Cơ cấu theo vùng lãnh thổ: Phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế - xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân thống nhất. Phương diện thứ hai: Xét về mặt kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế bao gồm: 1. Cơ cấu theo các thành phần kinh tế: Phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên trong xã hội.
Cơ cấu theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ: Phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất. Tính chất của cơ cấu kinh tế.