Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, một số vấn đề của đề tài sẽ được làm rõ: lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, vấn đề cần nghiên cứu, giới thiệu tổng quan về phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Tổng hợp những lý thuyết cơ bản, cơ sở lý luận khoa học liên quan và những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa tự do hoá tài chính, phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và độ bất ổn định tài chính Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. 5 Trong chương này tác giả trình bày: mô hình nghiên cứu, mô tả các biến, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quán hệ giữa các yếu tố: Tự do hoá tài chính, phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế đối với độ bất ổn định tài chính ở một số quốc gia Châu Á tương ứng với phương pháp nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Tổng kết lại các nội dung: - Tóm tắt kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu - Tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu đã đưa ra - Hướng mở rộng và những hạn chế của đề tài 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết Nội dung chính của luận văn là nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính, tự do hóa tài chính, tăng trưởng kinh tế đối với độ bất ổn tài chính. Vì vậy, trước khi trình bày chi tiết nội dung mô hình nghiên cứu ở chương 3, trong chương này tác giả tổng hợp những lý thuyết liên quan nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố nghiên cứu trong mô hình. Lý thuyết về các yếu tố trong mô hình nghiên cứu: 2.
Phát triển tài chính Thị trường tài chính là khu vực trung gian của nền kinh tế, thông qua các công cụ tài chính (chứng khoán nợ, chứng khoán vốn và chứng khoán phái sinh) thực hiện các chức năng cơ bản dẫn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn đáp ứng kịp thời nhu cầu của nền kinh tế. Phát triển tài chính có thể được định nghĩa như một sự cải tiến về chất lượng trong 4 chức năng chính của thị trường tài chính (theo mô hình Levine, R 1997): (1) Huy động vốn (2) Phân bổ vốn và hỗ trợ lưu thông hàng hoá (3) Hỗ trợ kiểm soát doanh nghiệp (4) Hỗ trợ quản trị rủi ro Các đặc trưng có liên quan phát triển tài chính hỗ trợ thực hiện tốt 4 chức năng trên Để thực hiện tốt bốn chức năng trên, thì cần phải có sự bổ trợ của các hoạt động sau: - Các trung gian tài chính được hình thành đa dạng và cách thức hoạt động khác nhau giúp giảm chi phí giao dịch và tạo ra lợi tức vốn phân bổ tối ưu 7 - Các dịch vụ tài chính ra đời và cung cấp gần như tối ưu đến các lĩnh vực/ nghành nghề kinh tế xã hội Phát triển tài chính và sự hình thành cơ sở hạ tầng liên quan đến trung gian tài chính giải quyết được phần nào vấn đề bất cân xứng thông tin, giúp cho cung và cầu của nhà đầu tư và người đi vay gặp nhau. Phát triển tài chính thông qua các trung gian tài chính đã thực hiện tốt vai trò của mình là thu hút và huy động tiền tiết kiệm cho đầu tư, và phân bổ vốn một các hiệu quả cho các dự án có lợi tức kỳ vọng cao, tạo điều kiên gia tăng năng suất chung của nền kinh tế và lợi suất thực của vốn. Theo nghiên cứu của Pagano (1993), tuy các cấu phần của phát triển tài chính làm cho chi phí giao dịch có liên quan không giảm được, nhưng khi phát triển tài chính vượt quá một ngưỡng có thể làm giảm chi phí giao dịch của hệ thống tài chính, thúc đẩy gia tăng tăng trưởng kinh tế và đổi mới sản phẩm tài chính.
Bất ổn định tài chính Có nhiều cách hiểu về bất ổn định tài chính (khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng nợ, đổ vỡ bong bóng thị trường tài sản), nhưng khái quát lại bất ổn tài chính là trạng thái sụt giảm mạnh trong ngắn hạn về giá trị các tài sản tài chính, các tổ chức tài chính và sự đổ vỡ của hệ thống tài chính Trong giới học thuật, nhiều nghiên cứu trước đây thảo luận về vấn đề bất ổn định tài chính. Như nghiên cứu Gracia Herrero (2003) và Cihak (2007) đã sử dụng khủng hoảng ngân hàng như là một đại diện cho sự bất ổn tài chính. Tuy nhiên nghiên cứu Caprio và Klingebiel (1996) không tán đồng chỉ số này vì rất khó xác định thời điểm của các cuộc khủng hoàng. Các cuộc khủng hoảng chỉ được xem xét khi các chính sách khắc phục kịp thời không hạn chế được, chúng đủ trầm trọng để kích hoạt các sự kiện thị trường.
Và nếu chỉ tính đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng thì sự bất ổn định ở các bộ phận khác của hệ thống tài chính sẽ bị bỏ rơi. 8 Để vượt qua những vấn đề này, Guillaumout và Kpodar (2004) và Loayza và Ranciere (2004) xây dựng một chỉ số về độ bất ổn tài chính bằng cách đo lường sự phát triển tài chính đó là phần chênh lệch tiêu chuẩn cho mỗi kỳ bảy năm dự kiến xu hướng tài chính, chỉ số phát triển trong giai đoạn nghiên cứu. Điều này có nghĩa là chỉ số bất ổn định về tài chính là được tính từ độ lệch chuẩn của phần còn lại của biến số phát triển tài chính quay lại độ trễ giá trị và xu hướng của nó. Loayza và Ranciere (2004) tính tiêu chuẩn độ lệch từ tăng trưởng của chỉ số phát triển tài chính, trong khi Eggoh Jude (2008) đo lường sự bất ổn tài chính thông qua một thành phần chu kỳ của chỉ số phát triển tài chính.
Bài nghiên cứu dựa theo phương pháp của Klomp và Haan (2009) xây dựng một chỉ số bất ổn định tài chính liên tục, bằng cách phân tích số học về một số chỉ số ổn định tài chính. Dấu hiệu của bất ổn định tài chính Giai đoạn tiền khủng hoảng, giống như bầu trời trước bão, luôn có đầy đủ dấu hiệu cảnh báo cần thiết. Theo một nghiên cứu của IMF dựa trên các cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong lịch sử về dấu hiệu, diễn biến và nguyên nhân, trước khi xảy ra khủng hoảng, các dấu hiệu sau (hoặc cùng nhau hoặc một hay một số trong đó) thường xuất hiện: - Thứ nhất, tín dụng mở rộng quá mức và/hoặc giá tài sản tăng quá cao Dấu hiệu này thường đi kèm với chính sách tiền tệ mở rộng, dòng vốn giá rẻ ồ ạt cung vào thị trường qua hệ thống tài chính. Hệ lụy là dòng tiền không thể hấp thụ hết vào khu vực sản xuất sẽ chảy vào những khu vực có tỷ suất sinh lời cao và rủi ro cũng cao như các thị trường tài sản (bất động sản, thị trường chứng khoán), nhiều trong số đó mang tính đầu cơ ngắn hạn, tạo bong bóng tài sản.
Khủng hoảng sẽ xảy ra khi dòng vốn giá rẻ đột ngột đảo chiều, thị trường tài sản đổ vỡ (giảm giá mạnh, mất thanh khoản). Thực tế cho thấy, dấu hiệu đầu tiên này cũng là dấu hiệu phổ biến và cơ bản nhất, xuất hiện tại mọi cuộc khủng hoảng tài chính lớn. Ví dụ, tại cuộc khủng hoảng 9 nợ của các nước Mỹ La-tinh năm 1982, do dễ dàng vay nợ giá rẻ từ nước ngoài trong nhiều năm, các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng trưởng tín dụng nhanh với quy mô lớn, nhờ đó kinh tế tăng trưởng cao trong những năm này. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập kỷ 70, dòng vốn đảo chiều, lãi suất tăng vọt, chính phủ các nước Mỹ la tinh mất khả năng trả nợ.
Gần đây hơn, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 cũng chứng kiến hiện tượng tương tự, dòng vốn giá rẻ qua hệ thống tài chính cung quá mức vào thị trường, dẫn đến bong bóng tài sản tại các nước Châu Á (1997), hay bong bóng giá nhà ở và nợ dưới chuẩn của Mỹ (2008- 2009) - Thứ hai, hệ thống tài chính khó khăn hoặc mất khả năng cung cấp nguồn lực tài chính cho các khu vực khác của nền kinh tế. Tình trạng này xảy ra khi hệ thống tài chính mất khả năng thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc mất mát niềm tin khiến tín dụng không thể cung ra thị trường, nợ xấu ngân hàng gia tăng. Dấu hiệu này thường rõ nét ngay trước khủng hoảng bùng nổ, cũng như trong và sau khủng hoảng. - Thứ ba, hỗ trợ của chính phủ ở quy mô lớn (như hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn).
Đặc trưng của các hệ thống tài chính là rủi ro lây nhiễm cao, niềm tin dễ dàng bị xói mòn khi thông tin bất cân xứng, có thể tạo nên tình trạng “hoảng loạn tập thể” gây đổ vỡ hệ thống. Bởi vậy, Chính phủ thường hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn cho các định chế tài chính lớn đang gặp khó khăn hoặc rủi ro nếu sự đổ vỡ của các định chế đó ảnh hưởng xấu tới hệ thống. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, mặc dù Chính phủ có hỗ trợ lớn nhưng đổ vỡ hệ thống vẫn diễn ra, tình trạng hỗn loạn vẫn trầm trọng do rủi ro lây nhiễm đã lan quá rộng, ngoài năng lực hỗ trợ của chính phủ. Chúng ta có thể thấy thực trạng này tại cuộc khủng hoảng gần đây nhất năm 2007-2008, Chính phủ Mỹ và Chính phủ của một số nền kinh tế đều thực hiện 10 cứu trợ quy mô lớn nhưng vẫn không thể ngăn chặn đà tiến của cuộc khủng hoảng đó.
- Thứ tư, các bất cân đối lớn trên bảng cân đối tài khoản, cụ thể là bất cân đối giữa NỢ và TÀI SẢN (của Chính phủ, doanh nghiệp, hộ gia đình, ngân hàng thương mại (NHTM)…). Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bất cân đối khác như sự phá giá tiền tệ mạnh và đột ngột, suy giảm mạnh dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trong thời gian ngắn, thâm hụt cán cân thanh toán, cán cân thương mại nghiêm trọng và kéo dài … Tác động của bất ổn định tài chính - Tác động cơ bản và rõ nét nhất là thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp do sản xuất của doanh nghiệp, thu nhập của người dân giảm mạnh.