Chương 1: Giới thiệu. Giới thiệu lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 4 Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây. Trình bày cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó giới thiệu các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của phát triển tài chính và mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này sẽ giới thiệu về mô hình nghiên cứu và phương pháp định lượng mà tác giả sử dụng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Từ phương pháp nghiên cứu, mô hình định lượng được sử dụng, tác giả trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho mối quan hệ giữa quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Chương 5: Kết luận. Chương này sẽ tóm tắt lại toàn bộ các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, nêu ra hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Các khái niệm (1) Tăng trưởng kinh tế Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa hay GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội. Theo Kulkarni, Kishore G.(2008) trong chương 3 của tác phẩm “Principle of Macro-Monetary Economics”, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia tính bình quân trên đầu người (GDP bình quân đầu người) trong một thời gian nhất định. Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ…được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn… (2) Phát triển tài chính Theo Adnan, Noureen (2011) trong tác phẩm “Measurement of Financial Development: A Fresh Approach” đề cập đến thuật ngữ “phát triển tài chính”. Theo đó, phát triển tài chính được định nghĩa là các chính sách, các yếu tố và tổ chức đưa đến các trung gian tài chính hiệu quả và thị trường tài chính hiệu quả. Phát triển tài chính theo chiều rộng đề cập đến phát triển chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư và lao động. Phát triển kinh tế theo sự phát triển tài chính theo chiều rộng mang ý nghĩa là gia tăng lượng vốn đầu tư phù hợp với sự gia tăng của lao động.
6 McKinnon (1991) trong tác phẩm “The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy” đã đề cập đến thuật ngữ “phát triển tài chính theo chiều sâu”, theo đó phát triển tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng tỷ lệ giá trị các tài sản tài chính so với GDP. (3) Mở cửa thương mại Có nhiều quan điểm về việc tính toán độ mở cửa thương mại của một quốc gia. Có quan điểm cho rằng đó là việc loại bỏ hàng rào thuế quan và đưa ra các chính sách mở cửa thương mại. Có một số nghiên cứu lại sử dụng công cụ là độ bóp méo thương mại, độ bóp méo thương mại càng ít thì độ mở thương mại càng tăng.
Hay một số nghiên cứu khác lại cho rằng mở cửa thương mại có thể đo lường bằng việc đánh giá độ chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực, hay sự chênh lệch giữa thị trường chính thức và thị trường phi chính thức. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến mở cửa thương mại có nghĩa là sự mở cửa của một quốc gia với quốc gia khác thể hiện trong việc thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được khởi xướng bởi Schumpeter (1912), Debreu (1959), Arrow (1964). Joseph Schumpeter (1912) trong “The Theory of Economic Development” : lập luận rằng một hệ thống tài chính vận hành tốt giúp đưa tiết kiệm vào đầu tư, thúc đẩy cải tiến kỹ thuật và từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế.
Hệ thống tài chính phát triển sẽ tạo điều kiện đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro cho người gửi tiết kiệm, và cung cấp nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư gia tăng lợi nhuận. Một chức năng quan trọng của hệ thống tài chính là thu thập và xử lý thông tin về dự án đầu tư một cách hiệu quả làm giảm chi phí đầu tư cho các nhà đầu tư cá nhân. Thông qua việc giảm chi phí và tăng hiệu quả đầu tư, phát triển tài chính làm tăng tiết kiệm, quyết định đầu tư, thúc đẩy đổi mới công nghệ từ đó làm cho kinh tế tăng trưởng. Khi 7 kinh tế tăng trưởng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tiết kiệm và đầu tư tăng, thúc đẩy thị trường tài chính phát triển.
Một quan điểm ngược lại thì cho rằng hệ thống tài chính chỉ có một vai trò rất nhỏ trong quá trình phát triển của các khu vực sản xuất. Quan điểm “sòng bạc” (casino hypothesis) cho rằng nhà nước hoàn toàn có thể không cần chú ý tới hệ thống tài chính hoặc thậm chí còn có thể coi đó là có hại cho tăng trưởng và phân phối thu nhập. Điển hình là Keynes, ông cho rằng nếu không quản lý tiền thận trọng thì có thể sẽ gây ra phá hủy nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế. Vai trò quan trọng của phát triển tài chính trong bất kỳ quá trình nào của phát triển kinh tế đã được đề cập đến trong rất nhiều cuộc tranh luận về kinh tế và nghiên cứu tài chính.
Các quan điểm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được đưa ra trong các nghiên cứu thực nghiệm như sau: Trước hết, Goldsmith (1969) là người đầu tiên tìm thấy mối tương quan dương giữa tăng trưởng và các chỉ số phát triển tài chính. Phù hợp với nghiên cứu của Goldsmith, King và Levine ( 1993) đã chứng minh rằng hệ thống tài chính tốt sẽ góp phần tạo ra các cải tiến kỹ thuật và phát triển tài chính, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. King và Levine đã xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bốn thước đo phát triển tài chính ở 80 quốc gia trong giai đoạn 1960 – 1989. Bốn thước đo tài chính đó là: (1) LLY là tỷ lệ giữa nợ thanh khoản với GDP, (2) Ngân hàng là tỷ lệ tài sản ngân hàng với tài sản ngân hàng cộng tài sản ngân hàng trung ương, (3) Tư nhân là tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính với tổng tín dụng nội địa (4) PRIVY là tỷ lệ các khoản vay cho khu vực tư nhân phi tài chính trên GDP.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trung gian tài chính sẽ thúc đẩy tích lũy vốn và cải tiến kỹ thuật góp phần làm tăng năng suất các thành phần kinh tế, điều này dẫn đến tăng trưởng kinh tế đặc biệt là với các quốc gia có hệ thống tài chính phát triển. 8 Murinde và Eng (1994), nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Singapore cho giai đoạn 1979-1990. Nghiên cứu sử dụng 3 nhóm biến tài chính bao gồm Mi, Hi, Vi với i =1,2,3. Đầu tiên là Mi đại diện cho tổng cung tiền bao gồm M1, M2 và M3; thứ hai là Hi đại diện cho tỷ lệ tiền tệ với H1 = ACC/M1, H2 = ACC/M2, H3 = ACC/M3 (ACC là tiền đang lưu thông); thứ ba là Vi đại diện cho biến lưu hành tiền tệ: V1 = M1/ GNP, V2 = M2/GNP, V3 = M3/GNP.
Thông qua kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả và sử dụng mô hình BVAR, bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ sự phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế, điều này chứng minh cho chính sách tái cơ cấu tài chính được thực hiện bởi chính phủ của quốc gia này trong những năm 1980. Rajan và Zingales (1998), sử dụng dữ liệu ngành để nghiên cứu tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho rằng phát triển tài chính có ảnh hưởng ổn định đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng ngành công nghiệp ở những nước có thị trường tài chính phát triển tốt thì tăng trưởng nhanh hơn so với các ngành tương đương ở các thị trường tài chính kém phát triển.
Darrat (1999), sử dụng kiểm định nhân quả Granger đa biến để điều tra mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở 3 quốc gia Trung Đông bao gồm Ả Rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy phát triển tài chính là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng kinh tế. Beck và Levine (2004), nghiên cứu tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán và sự phát triển của các ngân hàng, hai thành phần chủ đạo đến tăng trưởng kinh tế. Bằng cách sử dụng dữ liệu bảng được tổng hợp từ 40 quốc gia cho giai đoạn 1976-1998 và kỹ thuật GMM, bài nghiên cứu tìm thấy rằng cả thị trường chứng khoán và các ngân hàng đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
9 Christopoulos and Tsionas (2004), nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn ở 10 quốc gia đang phát triển. Tác giả sử dụng kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng kiểm định đồng liên kết ngưỡng, và dữ liệu bảng năng động cho mô hình vector sửa lỗi (VECM). Mối quan hệ trong dài hạn được kiểm tra bằng cách sử dụng hồi quy FM-OLS.
Các kết quả thực nghiệm hỗ trợ giả thuyết cho rằng có một mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa chiều sâu tài chính và tăng trưởng và kết quả đồng liên kết cho thấy có mối quan hệ nhân quả một chiều từ chiều sâu tài chính đến tăng trưởng kinh tế. Chang và Caudill (2005), nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở Đài Loan từ năm 1962-1998.