Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN CNHT NGÀNH THÉP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KTQT 1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Dưới tác động của nền kinh tế thị trường và sức ép của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản, trong thời gian gần đây CNHT được nhắc đến khá nhiều và vấn đề phát triển CNHT tại Việt Nam đã được đặt ra một cách nghiêm túc và bức thiết. Các cơ quan quản lý Nhà nước và các doanh nghiệp cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của CNHT đối với việc phát triển các ngành công nghiệp và coi CNHT là động lực của quá trình CNH – HĐH đất nước. Mặc dầu vậy, ở các hội nghị - hội thảo cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, còn nhiều ý kiến khác nhau trong nhận thức và khái niệm về CNHT. Bởi vì khái niệm CNHT mới được biết đến ở Việt Nam trong thời gian gần đây và bản thân thuật ngữ CNHT vẫn còn là một thuật ngữ mơ hồ, chưa có một định nghĩa nào cụ thể.
Nó có thể mang tính học thuật hoặc mang tính thực hành và thay đổi theo thời gian ở từng nơi, từng giai đoạn phát triển.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ Bộ Công Thương Nhật Bản (MITI, hiện nay là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại - METI) lần đầu tiên nhắc đến cụm từ Supporting Industry (CNHT) trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” [32] nhưng không đưa ra định nghĩa cụ thể. Phải đến năm 1993, họ mới chính thức đưa ra định nghĩa về CNHT trong Chương trình hành động phát triển CNHT Châu Á như sau: “Ngành CNHT là ngành sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên vật liệu, phụ tùng và linh kiện cơ bản cho công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện tử và điện gia dụng…)” [11, trang 14]. 9 Đến nay, sau gần 30 năm hình thành và phát triển, định nghĩa về CNHT đã được các quốc gia nhìn nhận tương đối thống nhất, ví dụ: - Thái Lan, quốc gia thành công trong việc phát triển CNHT cho ngành công nghiệp ô tô và điện tử đã định nghĩa : “CNHT là ngành công nghiệp cung cấp các linh kiện, phụ tùng, máy móc và các dịch vụ đóng gói, kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản” [11, trang 15]. - Nhật Bản, sau nhiều năm phát triển CNHT, các nhà hoạch định chính sách gần đây đã ra định nghĩa mới: “CNHT là một thuật ngữ định hướng chính sách, chỉ một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp đầu vào trung gian gồm phụ tùng linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng linh kiện đó cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế biến” [11, trang 15].
- Ở Việt Nam, trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành CNHT, Bộ Công Thương đã đưa ra định nghĩa: “CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” [11, trang 15]. Sản xuất các sản phẩm CNHT đối với các ngành công nghiệp khác nhau cũng có nhiều lớp, thứ bậc khác nhau và giữa các nhà sản xuất – lắp ráp với các nhà sản xuất các sản phẩm CNHT cũng hình thành nhiều quan hệ hợp tác kinh doanh có thứ bậc khác nhau. Chính vì thế mà sự hình thành và phát triển CNHT ở các nước khác nhau cũng khác nhau. Tùy vào chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, tùy vào năng lực nội tại và bối cảnh phát triển mà khu vực CNHT hay công nghiệp lắp ráp sẽ được chú trọng ưu tiên phát triển trước để kéo theo khu vực kia phát triển tương ứng.
Thường ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên minh Châu Âu, CNHT hình thành trước hoặc đồng thời với ngành công nghiệp sản xuất chính 10 yếu, có vai trò quyết định tới sự thành công và uy tín của các sản phẩm công nghiệp cuối cùng. Đối với Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây là Trung Quốc, CNHT thường được hình thành đồng thời với việc tổ chức lắp ráp, sản xuất các sản phẩm công nghiệp cuối cùng. Còn đối với các nước đang phát triển như các nước trong ASEAN và Việt Nam, do thiếu vốn, công nghệ, thị trường tiêu thụ, thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, CNHT hình thành theo sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và sau đó, tùy theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở sản xuất, có thể vươn xa ra xuất khẩu các sản phẩm CNHT sang các thị trường khác [11, trang 15 – 16]. Tóm lại, CNHT là ngành công nghiệp sản xuất các nguyên liệu đầu vào, linh phụ kiện, các sản phẩm trung gian góp phần cấu thành nên sản phẩm cuối cùng của các ngành công nghiệp khác.
Tuy nhiên định nghĩa CNHT không nên tách ra thành mảng riêng mà phải được hiểu gắn liền với từng ngành công nghiệp cụ thể.2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ 1. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ Khái niệm về ngành CNHT là một khái niệm rộng và mang tính tương đối, tuy nhiên nó có một số đặc điểm sau: - CNHT phát triển gắn kết với ngành công nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp cụ thể (đối tượng hỗ trợ) và có nhiều tầng cấp tích hợp theo cả chiều ngang và chiều dọc. - CNHT xuất hiện trong các hình thức tổ chức công nghiệp theo kiểu thầu phụ, nằm trong một mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và có tính hợp tác cao giữa các doanh nghiệp chủ đạo và các doanh nghiệp hỗ trợ (mối liên kết công nghiệp). 11 - CNHT có tác động thúc đẩy những ngành công nghiệp, sản phẩm công nghiệp chính phát triển, cung cấp đầu vào theo hợp đồng hoặc theo kế hoạch cho sản xuất chính và thu hút đầu ra của các cơ sở sản xuất hỗ trợ cấp dưới theo kế hoạch sản xuất chính hoặc theo hợp đồng.
- Đối với một ngành công nghiệp hay một sản phẩm công nghiệp cụ thể nào đó, các tổ chức hoạt động trong các ngành CNHT thường có quy mô vừa và nhỏ với mức độ chuyên môn hóa sâu, dễ thay đổi mẫu mã, dải sản phẩm hẹp, có sức sống và tính cạnh tranh cao.2 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ * CNHT là nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế CNHT thường được ví như chân núi, tạo phần cứng để hình thành nên thân núi và đỉnh núi chính là ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp sản phẩm công nghiệp[4, trang 23 - 25], [11, trang 17 - 20]. Do đó, CNHT có một số vai trò như sau: - Bảo đảm tính chủ động cho nền kinh tế: Việc cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện, các bán thành phẩm ngay trong nội địa làm cho nền công nghiệp chủ động, không bị lệ thuộc vào nước ngoài và các biến động của nền kinh tế toàn cầu. CNHT không phát triển làm cho các ngành công nghiệp chính thiếu sức cạnh tranh và phạm vi phát triển cũng giới hạn. - Hạn chế nhập siêu: Hầu hết các quốc gia đang phát triển rơi vào tình trạng nhập siêu do luôn phải nhập khẩu nguyên liệu và các bán thành phẩm cho sản xuất lắp ráp trong nước.
Phát triển CNHT sẽ giúp cho các quốc gia đang phát triển giải quyết căn bản tình trạng nhập siêu của nền kinh tế, bảo đảm cân bằng cán cân thương mại. - Tăng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính: Phát triển CNHT, các quốc gia bên cạnh việc chủ động trong nguồn cung ứng, chi phí của sản phẩm công nghiệp cũng giảm đáng kể do cắt giảm chi phí vận chuyển, lưu kho, tận 12 dụng nhân công rẻ và nguồn nguyên liệu ngay tại nội địa. Phát triển các ngành CNHT một cách hợp lý sẽ tạo ra các sản phẩm có đặc thù riêng của quốc gia, có sức cạnh tranh hơn hẳn các sản phẩm chỉ được lắp ráp bởi các linh kiện và nguồn cung ứng toàn cầu. CNHT thuộc khu vực hạ nguồn (thương hiệu, marketing, chuỗi tiêu thụ, bán hàng.) đặc biệt gia tăng giá trị cho các sản phẩm công nghiệp, đây là điểm quan trọng làm cho hàng hoá của quốc gia có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
- Phát triển hệ thống DNVVN: Ở hầu hết các quốc gia, CNHT do hệ thống DNVVN đảm nhiệm, đây là khu vực doanh nghiệp tạo nhiều việc làm, là nền tảng sáng tạo của quốc gia. Phát triển hệ thống DNVVN là một trong các biện pháp hữu hiệu đối phó với khủng hoảng kinh tế, là đối trọng để cân bằng với các tập đoàn kinh tế khổng lồ hay bị tác động nhanh và mạnh nhất của các khủng hoảng kinh tế toàn cầu. * Nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp Mỗi sản phẩm có thể chia thành ba giai đoạn chính: - Thượng nguồn gồm các công đoạn nghiên cứu - triển khai, thiết kế, sản xuất các bộ phận linh kiện chính; - Trung nguồn là công đoạn lắp ráp, gia công; - Hạ nguồn là thương hiệu, tiếp thị, xây dựng mạng lưới lưu thông, khai thác và tiếp cận thị trường. Giá trị tạo ra R&D Thiết kế Sản xuất Phân phối Marketing sản phẩm lắp ráp (Nguồn: Phan Đăng Tuất, 2008) Hình 1.1: Sơ đồ chuỗi giá trị 13 Theo hình 1.1, các giai đoạn thượng nguồn và các hạ nguồn là khu vực tạo ra giá trị gia tăng cao - đây chính là công đoạn của các ngành CNHT.
Trong khi khu vực trung nguồn với các hoạt động lắp ráp, gia công là khu vực ít tạo ra giá trị gia tăng nhất. Như vậy, một quốc gia chỉ có thể tạo ra giá trị gia tăng của các sản phẩm công nghiệp khi khu vực thượng nguồn như nguyên liệu, phụ liệu, linh kiện, các bán thành phẩm… được cung ứng ngay trong nội địa. Tương tự như vậy, đối với các sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, ví dụ như hải sản xuất khẩu, hạt điều, dầu mỏ… nếu phần hạ nguồn được thực hiện ngay trong nước, sản phẩm được mang thương hiệu của quốc gia thì giá trị thu về từ sản phẩm cao gấp nhiều lần so với sản phẩm xuất khẩu ngay từ khâu nguyên liệu thô hoặc sơ chế. Phát triển CNHT, vì vậy góp phần hiệu quả trong việc khai thác các nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu, hạn chế xuất khẩu tài nguyên và các sản phẩm chế biến thô.