Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về phát triển công nghiệp, công nghiệp cá thể. Chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp cá thể trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2020. Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh phát triển công nghiệp cá thể trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021 - 2025. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ HỘ SẢN XUẤT KINH DOANH CÁ THỂ TRONG CÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm công nghiệp và phân loại công nghiệp 1. Khái niệm ngành công nghiệp Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo”. Công nghiệp là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ khoa học, công nghệ và kỹ thuật. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Công nghiệp là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên, các nguồn năng lượng và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm.
Để phân biệt sản xuất công nghiệp với các ngành kinh tế khác người ta dựa vào sự phụ thuộc vào máy móc, công nghệ. Sản xuất công nghiệp là sản xuất bằng máy móc, thiết bị càng hiện đại thì năng suất lao động và sản phẩm có chất lượng càng cao; giá thành sản xuất giảm, tiêu hao nguyên vật liệu và năng lượng thấp. Do đó, để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất công nghiệp, người ta không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến và ngày càng hiện đại hơn. Phân loại ngành công nghiệp Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia công nghiệp ra thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, theo đó có hai nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ.
Việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi kế hoạch thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu. 6 Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật - công nghệ sản xuất: công nghiệp được chia thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật - công nghệ, hoặc cùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tự nhau. Việc phân chia có ý nghĩa đối với việc quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp dưa trên cân đối liên ngành, cân đối kinh tế quốc gia. Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: công nghiệp được chia thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến.
Việc phân chia có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, lâu dài, là cơ sở để các quốc gia, toàn cầu sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Dựa vào quy mô doanh nghiệp: công nghiệp được chia thành công nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ. Phân chia theo quy mô là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, cũng là hoạt động quan trọng để tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng công nghiệp. Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: công nghiệp được chia thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Việc phân chia theo quan hệ sở hữu có ý nghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia nhằm huy động tối đa nguồn lực cho phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 1. Khái niệm và phân loại hộ sản xuất kinh doanh cá thể 1. Khái niệm Thuật ngữ “hộ kinh doanh (HKD)” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006. Trước đây, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH), HKD tại Việt Nam được gọi dưới các tên gọi 7 khác nhau như “tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa”; “hộ cá thể”, “hộ tiểu công nghiệp”; “HKD cá thể”… Theo khái niệm của Tổng cục Thống kê, hộ SXKDCT được sử dụng để đề cập đến những đơn vị kinh doanh được sở hữu bởi một cá nhân hay hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp và không đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp.
Quy mô tối đa của một hộ SXKDCT là 10 lao động vì theo Luật DN, bất kỳ hộ kinh doanh nào có trên 10 lao động thường xuyên, bắt buộc phải đăng ký thành lập DN. Như vậy, hộ SXKDCT không phải là DN nhưng có thể là hộ SXKDCT có giấy đăng ký kinh doanh hoặc là hộ SXKDCT không có giấy đăng ký kinh doanh. Theo hướng dẫn tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP 14/9/2015 ngày thì: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.2 Đặc điểm và vai trò của công nghiệp cá thể Một số đặc điểm nổi bật của hộ cá thể công nghiệp: - Do một cá nhân, một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ; giấy phép kinh doanh do cá nhân đứng tên đăng ký tại UBND quận (huyện), và thuế quận (huyện) quản lý. - Không có tư cách pháp nhân: Có bản chất là cá nhân kinh doanh do đó không thể là pháp nhân.
Trường hợp hộ được tạo bởi gia đình thì hộ có bản chất là hộ gia đình. Vì không có tư cách pháp nhân, không có vốn điều lệ, nên không thể tham gia vào các lĩnh vực, ngành nghề như tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản,… hộ kinh doanh không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện và không được thực hiện các quyền mà các doanh nghiệp đang thực hiện. Hộ kinh doanh không có đủ tư cách pháp nhân, không có hình dấu 8 tròn, không cần vốn pháp định, theo chế độ thuế khoán, không viết hóa đơn GTGT, không làm báo cáo tài chính cho sở thuế cũng như không ký kết các hợp đồng kinh tế. Trong khi đó doanh nghiệp thì được pháp luật quy định rất rõ ràng và chặt chẽ về số vốn, chế độ thuế và dấu tròn doanh nghiệp và được ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Là hình thức kinh doanh có quy mô rất nhỏ: Không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó có nhiều rủi ro vì không có giới hạn về trách nhiệm tài sản và sự không tách bạch giữa cơ sở (hộ) với người đại diện (chủ hộ),thể hiện ở: hoạt động hộ kinh doanh không bền vững và dễ bị chấm dứt nếu chủ hộ chết, tai nạn, bệnh tật… đây là hạn chế trong thiết lập quan hệ giao dịch với hộ kinh doanh; hộ kinh doanh khó huy động vốn so với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; rủi ro trong đầu tư của hộ kinh doanh rất cao, nhưng độ an toàn về sở hữu tài sản thấp. - Chủ hộ SXKD chịu trách nhiệm vô hạn đối với những khoản nợ: Hộ SXKD không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với người tạo ra nó. - Nghề nghiệp mang tính chất thường xuyên 1.3 Phân loại Hộ sản xuất kinh doanh cá thể được phân loại theo ngành hoạt động bao gồm các ngành: *Khai khoáng; * Chế biến chế tạo, * Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí Cung cấp nước; * Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải * Xây dựng * Vận tải kho bãi * Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 9 * Dịch vụ lưu trú và ăn uống * Thông tin và truyền thông * Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm * Hoạt động kinh doanh bất động sản * Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ * Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ * Giáo dục và đào tạo * Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội * Nghệ thuật, vui chơi và giải trí * Hoạt động dịch vụ khác Hộ cá thể công nghiệp bao gồm 32 ngành với mã ngành cấp 2 từ 05 đến 33 gồm các nhóm ngành: Khai khoáng; chế biến chế tạo; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Nội dung phát triển công nghiệp cá thể - Tăng trưởng về sản lượng công nghiệp cá thể theo chiều rộng bằng cách tăng quy mô sản xuất và quy mô lao động, vốn.
Để tăng trưởng theo hướng này cần chú trọng mở rộng quy mô cơ sở sản xuất, đa dạng hoá ngành nghề từ đó tạo ra ngày càng nhiều hơn các sản phẩm công nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường, góp phần gia tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng công nghiệp cá thể: đó là chỉ tiêu phản ánh về quy mô và tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định. Quy mô phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. - Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực hộ cá thể: thường được dùng để đo lường toàn bộ kết quả sản xuất công nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Giá trị sản xuất công nghiệp được tính theo giá so sánh và giá hiện hành. 10 - Số lượng, sản lượng sản phẩm công nghiệp: phản ánh quy mô, tính đa dạng trong sản xuất sản phẩm công nghiệp.