Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2015 - 2020, kinh tế thành phố Ninh Bình ghi nhận bước bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,1%/năm, mức cao nhất trên toàn tỉnh Ninh Bình. Giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố năm 2020 đạt 23,6 nghìn tỷ đồng theo giá so sánh năm 2010, tăng trưởng vượt bậc 188% so với năm 2015. Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người chạm mốc 65 triệu đồng/người/năm, tăng 27 triệu đồng sau 5 năm. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các cơ sở sản xuất cùng 2 khu công nghiệp và 2 cụm công nghiệp đã tạo ra sức ép nặng nề lên hệ sinh thái địa phương.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là mâu thuẫn gay gắt giữa tốc độ công nghiệp hóa nhanh và yêu cầu cấp bách về bảo đảm an ninh môi trường tại một thành phố trung tâm du lịch - di sản. Mỗi ngày, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn xả thải hơn 1.837 m3 nước thải và phát sinh khoảng 2.117 tấn chất thải rắn công nghiệp thông thường. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm bụi, tiếng ồn và khí thải cục bộ quanh các trục giao thông, bến cảng Ninh Phúc diễn biến phức tạp, dẫn đến 1.388 vụ vi phạm môi trường bị lực lượng chức năng phát hiện từ năm 2016 đến năm 2020.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và an ninh môi trường; phân tích toàn diện thực trạng phát triển công nghiệp gắn với đảm bảo an ninh môi trường tại thành phố Ninh Bình giai đoạn 2010 - 2020 (trọng tâm 2015 - 2020); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025, định hướng 2030. Luận văn đóng vai trò nền tảng khoa học hỗ trợ địa phương thực hiện Quyết định số 565/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình về quy hoạch phát triển công nghiệp bền vững, hướng tới mục tiêu 100% khu, cụm công nghiệp vận hành hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa con người, tự nhiên và phương thức sản xuất vật chất. Môi trường tự nhiên vừa là điều kiện tiền đề, vừa là nguồn cung cấp tư liệu sản xuất và không gian sinh tồn của xã hội. Nếu quá trình tích lũy tư bản và mở rộng sản xuất chỉ chạy theo giá trị thặng dư trước mắt mà hủy hoại tự nhiên, nền kinh tế tất yếu sẽ đối mặt với khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp Lý thuyết Phát triển bền vững từ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), khẳng định sự phát triển phải đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai thông qua sự dung hòa 3 trụ cột: kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường bền vững. Luận văn chuẩn hóa 5 khái niệm cốt lõi:

  • Công nghiệp: Ngành sản xuất vật chất quy mô lớn dựa trên máy móc và công nghệ hiện đại.
  • Phát triển công nghiệp: Quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nâng cao năng suất gắn với chuyển dịch cơ cấu ngành tiến bộ.
  • Môi trường: Hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
  • An ninh môi trường: Trạng thái an toàn của hệ thống môi trường nhằm bảo đảm không có tác động tiêu cực làm suy giảm điều kiện sống của con người và đe dọa sự ổn định kinh tế - xã hội theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Phát triển công nghiệp gắn với an ninh môi trường: Tổng thể các biện pháp gia tăng sản lượng công nghiệp đi đôi với kiểm soát phát thải, giữ định mức nước thải đạt chuẩn kỹ thuật quốc gia khoảng 50 m3/ngày đêm và không làm suy thoái nguồn tài nguyên.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Ninh Bình, các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình từ năm 2015 đến năm 2020, báo cáo quan trắc của Chi cục Bảo vệ môi trường và số liệu lưu trữ từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình.

Cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 150 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và 300 hộ dân sinh sống lân cận các khu, cụm công nghiệp. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng tại 4 khu vực trọng điểm: Cụm công nghiệp Cầu Yên, Cụm công nghiệp Ninh Phong, Khu công nghiệp Ninh Phúc - Khánh Phú và Khu công nghiệp Phúc Sơn. Việc phân tầng theo loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh nghiệp tư nhân và cơ sở tiểu thủ công nghiệp bảo đảm tính đại diện cao cho cấu trúc công nghiệp địa phương.

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp logic với lịch sử, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh định lượng. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bóc tách bản chất kinh tế chính trị của các hiện tượng sinh thái - công nghiệp, đo lường chính xác các biến số kinh tế và mức độ ô nhiễm trong chuỗi thời gian 10 năm từ năm 2010 đến năm 2020, tạo tiền đề xây dựng các mô hình dự báo đáng tin cậy.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp có sự phân hóa sâu sắc giữa các thành phần kinh tế. Năm 2020, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đạt giá trị sản xuất 18,87 nghìn tỷ đồng, tăng 17,7% so với năm 2019 và chiếm gần 80% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố dù chỉ có 7 doanh nghiệp hoạt động. Ngược lại, khu vực doanh nghiệp tư nhân với 1.541 cơ sở (chiếm 97,8% tổng số doanh nghiệp) chỉ tạo ra 2,71 nghìn tỷ đồng, giảm 5,4% do tác động của dịch bệnh và năng lực công nghệ hạn chế. Khu vực doanh nghiệp nhà nước duy trì 17 đơn vị với giá trị 955 tỷ đồng, giảm 29,2% về số lượng cơ sở so với 24 doanh nghiệp năm 2015.

Thứ hai, hiệu quả đầu tư và đóng góp ngân sách giữa các cụm công nghiệp có khoảng cách vượt trội. Cụm công nghiệp Cầu Yên quy mô 13,76 ha với 7 dự án FDI đạt tổng vốn đầu tư 1.458 tỷ đồng (gấp 7,7 lần Cụm công nghiệp Ninh Phong), nộp ngân sách nhà nước 31,9 tỷ đồng và tạo việc làm cho 733 lao động. Trong khi đó, Cụm công nghiệp Ninh Phong quy mô 13 ha với 60 dự án nội địa chỉ đạt vốn đầu tư 189,5 tỷ đồng, nộp ngân sách 1,37 tỷ đồng cho 615 lao động. Cả 2 cụm công nghiệp đều đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, trong khi 2 khu công nghiệp Ninh Phúc - Khánh Phú (334 ha) và Phúc Sơn (145 ha) mới đạt tỷ lệ lấp đầy 76% với 107 dự án đầu tư.

Thứ ba, sức ép rác thải và nước thải công nghiệp vượt quá năng lực xử lý hạ tầng hiện hữu. Tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu, cụm công nghiệp và 135 cơ sở sản xuất nằm ngoài quy hoạch lên tới 1.837 m3/ngày. Lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh mỗi ngày đạt 2.117 tấn, trong khi Nhà máy xử lý chất thải rắn Ninh Bình tại huyện Yên Mô (tổng mức đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng từ nguồn ODA Hàn Quốc) chỉ có công suất thiết kế 600 tấn/ngày đêm. Phần lớn chất thải rắn xây dựng và xỉ than chưa có công nghệ tái chế triệt để, tiềm ẩn nguy cơ chôn lấp tự phát.

Thứ tư, vi phạm an ninh môi trường diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Trong giai đoạn 2016 - 2020, cơ quan chức năng đã xử phạt hành chính 1.333 vụ vi phạm với tổng số tiền xử phạt 11,13 tỷ đồng, đồng thời khởi tố hình sự 15 vụ án nghiêm trọng với 24 bị can. Kết quả quan trắc không khí cho thấy nồng độ Benzen trung bình tại hầu hết các khu công nghiệp đều vượt ngưỡng cho phép theo QCVN 06:2009/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên bắt nguồn từ việc hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường tại các khu, cụm công nghiệp chưa đồng bộ; thiếu hệ thống quan trắc nước thải tự động kết nối trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô vốn nhỏ, chưa chủ động trích lập quỹ đổi mới công nghệ sạch. Mặt khác, các chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe so với lợi ích kinh tế thu được từ hành vi xả thải trái phép.

So sánh với các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Hòe và Lê Thị Thanh Hà, kết quả này tái khẳng định quy luật đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa. Tuy nhiên, bài học từ thành phố Nam Định trong việc đình chỉ hoạt động các cơ sở vi phạm lần thứ ba, từ thành phố Thái Bình trong việc ưu đãi giá thuê đất cho doanh nghiệp sản xuất sạch, và từ thành phố Thanh Hóa trong việc kiểm tra đột xuất tại các khu công nghiệp Hoàng Long, Lễ Môn cho thấy thành phố Ninh Bình hoàn toàn có thể kiểm soát tốt an ninh môi trường nếu siết chặt kỷ cương quản lý.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu giá trị sản xuất và số lượng doanh nghiệp giữa 3 khu vực kinh tế (FDI, tư nhân, nhà nước); biểu đồ tròn mô tả cơ cấu chất thải rắn đô thị (chất thải sinh hoạt chiếm đa số, chất thải công nghiệp chiếm 9,42%, chất thải y tế chiếm tỷ lệ nhỏ); cùng bảng tổng hợp phân tích hiệu quả kinh tế - sinh thái giữa Cụm công nghiệp Cầu Yên và Cụm công nghiệp Ninh Phong.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát, điều chỉnh quy hoạch và hiện đại hóa hạ tầng kiểm soát môi trường khu, cụm công nghiệp. Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình phối hợp với Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh đầu tư hoàn thiện 100% hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Ninh Phúc - Khánh Phú, Khu công nghiệp Phúc Sơn và 2 cụm công nghiệp Cầu Yên, Ninh Phong trước năm 2025. Bắt buộc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục truyền dữ liệu 24/7 đối với mọi cơ sở có lưu lượng nước thải trên 50 m3/ngày đêm, kiểm soát các chỉ số COD, BOD5 và kim loại nặng đạt chuẩn xả thải.

Thứ hai, thực thi chính sách ưu đãi tài chính và thúc đẩy chuyển giao công nghệ sạch. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Sở Tài chính tham mưu chính sách giảm 15% đến 20% tiền thuê đất trong 3 năm đầu cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ 4.0 và sản xuất tuần hoàn. Đồng thời, trích từ 5% đến 10% Quỹ khuyến công hàng năm để hỗ trợ lãi suất vay vốn cho 1.541 doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn chuyển đổi máy móc tiêu hao ít năng lượng, giảm thiểu phát sinh khí thải SO2, NOx và bụi mịn PM10, hoàn thành lộ trình nâng tỷ lệ doanh nghiệp công nghiệp sạch lên 60% vào năm 2026.

Thứ ba, nâng cao năng lực thanh tra, giám sát và siết chặt chế tài xử lý vi phạm pháp luật môi trường. Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Công an thành phố Ninh Bình thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh ô nhiễm từ người dân; tăng tần suất kiểm tra đột xuất tối thiểu 4 lần/năm tại các điểm nóng như cảng Ninh Phúc, CCN Ninh Phong. Áp dụng khung phạt tối đa, cưỡng chế đình chỉ sản xuất đối với các cơ sở tái phạm từ lần thứ hai và công khai danh tính trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong giai đoạn 2023 - 2025.

Thứ tư, mở rộng năng lực xử lý chất thải rắn công nghiệp theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình phê duyệt dự án nâng công suất Nhà máy xử lý chất thải rắn Ninh Bình từ 600 tấn/ngày đêm lên 1.200 tấn/ngày đêm đến năm 2027. Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư đối tác công tư (PPP) xây dựng khu liên hợp tái chế phế phẩm xỉ than, vật liệu xây dựng và rác thải nguy hại, bảo đảm tỷ lệ thu gom và tái chế chất thải rắn công nghiệp đạt trên 95% vào năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố Ninh Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình có thể khai thác luận văn như tài liệu căn bản để xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2025 - 2030, tối ưu hóa tiêu chí thẩm định cấp phép đầu tư FDI sạch và thiết lập bộ chỉ số giám sát an ninh môi trường cấp huyện.

Chủ đầu tư hạ tầng và Ban Quản lý các khu, cụm công nghiệp: Các nhà quản lý vận hành KCN Ninh Phúc - Khánh Phú, KCN Phúc Sơn và các cụm công nghiệp Cầu Yên, Ninh Phong có thể ứng dụng các mô hình so sánh hiệu quả kinh tế - sinh thái để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật ngầm, trạm quan trắc tự động và nâng cao tỷ lệ lấp đầy đạt chuẩn sinh thái trên 90%.

Cộng đồng doanh nghiệp sản xuất và các hộ kinh doanh công nghiệp: 1.541 doanh nghiệp tư nhân và hơn 11.980 hộ sản xuất cá thể trên địa bàn có thể tham khảo các yêu cầu quy chuẩn kỹ thuật xả thải, từ đó xây dựng kế hoạch chuyển đổi công nghệ, tiếp cận các gói hỗ trợ tài chính xanh và phòng ngừa rủi ro pháp lý môi trường.

Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu học thuật: Các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Khoa học môi trường có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp luận nghiên cứu liên ngành giữa kinh tế chính trị học và an ninh sinh thái tại địa bàn cấp đô thị trực thuộc tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm an ninh môi trường trong luận văn có điểm gì khác biệt so với bảo vệ môi trường thông thường? An ninh môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không chỉ dừng lại ở các hoạt động bảo tồn, phục hồi tự nhiên đơn thuần mà nhấn mạnh trạng thái an toàn, bảo đảm không để các biến động môi trường đe dọa sự ổn định chính trị, an sinh xã hội và đà phát triển kinh tế bền vững của địa phương.

Tại sao khu vực kinh tế FDI lại đóng vai trò chi phối giá trị sản xuất công nghiệp tại thành phố Ninh Bình? Năm 2020, dù chỉ có 7 dự án hoạt động tập trung tại Cụm công nghiệp Cầu Yên, khu vực FDI đã tạo ra 18,87 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 80% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn thành phố nhờ quy mô vốn đầu tư lớn 1.458 tỷ đồng, công nghệ tự động hóa hiện đại và các ngành chế tạo phụ tùng ô tô, điện tử có giá trị gia tăng cao.

Áp lực lớn nhất đối với chất thải rắn công nghiệp tại thành phố Ninh Bình hiện nay là gì? Thành phố phát sinh khoảng 2.117 tấn chất thải rắn công nghiệp mỗi ngày, trong khi Nhà máy xử lý chất thải rắn Ninh Bình tại Yên Mô chỉ có công suất 600 tấn/ngày đêm. Sự thiếu hụt công nghệ tái chế xỉ than, phế phẩm xây dựng và việc đổ trộm rác thải công nghiệp là thách thức sinh thái lớn nhất.

Thành phố Ninh Bình có thể học hỏi bài học then chốt nào từ các địa phương lân cận? Thành phố có thể tiếp thu bài học từ Nam Định về việc kiên quyết đình chỉ sản xuất với cơ sở vi phạm môi trường từ lần thứ ba, bài học từ Thái Bình về gói tín dụng hỗ trợ đổi mới công nghệ sạch và bài học từ Thanh Hóa về kiểm soát xả thải nghiêm ngặt gần khu dân cư.

Việc phát triển công nghiệp sạch có ý nghĩa thế nào đối với không gian du lịch Tràng An của Ninh Bình? Quần thể danh thắng Tràng An là Di sản Thế giới tiếp giáp trực tiếp thành phố Ninh Bình. Việc kiểm soát 1.837 m3 nước thải và nồng độ khí thải Benzen từ các KCN lân cận giúp bảo toàn nguyên vẹn cảnh quan di sản, tạo sự cộng hưởng bền vững giữa công nghiệp phụ trợ và kinh tế du lịch xanh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận Kinh tế chính trị Mác - Lênin và lý thuyết phát triển bền vững về phát triển công nghiệp gắn với đảm bảo an ninh môi trường cấp địa phương.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh tăng trưởng công nghiệp thành phố Ninh Bình giai đoạn 2015 - 2020 với giá trị sản xuất đạt 23,6 nghìn tỷ đồng (tăng 188%) nhưng bộc lộ sự mất cân đối lớn giữa khu vực FDI và doanh nghiệp tư nhân.
  • Nhận diện rõ nét 4 điểm nghẽn môi trường cấp bách gồm 1.837 m3 nước thải/ngày, 2.117 tấn rác công nghiệp/ngày, ô nhiễm không khí cục bộ và 1.388 vụ vi phạm bị xử lý với 11,13 tỷ đồng tiền phạt.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, khả thi về quy hoạch hạ tầng ngầm, hỗ trợ tín dụng công nghệ sạch 4.0, tăng cường chế tài thanh tra và mở rộng nhà máy xử lý rác thải công suất 1.200 tấn/ngày đêm.
  • Khẳng định phát triển công nghiệp gắn với an ninh môi trường là yêu cầu sống còn để thành phố Ninh Bình hiện thực hóa Quyết định số 565/QĐ-UBND, hướng tới đô thị di sản và công nghiệp sinh thái bền vững.

Lộ trình thực hiện cần ưu tiên hoàn thiện 100% trạm quan trắc nước thải và cơ chế hỗ trợ tài chính xanh trong giai đoạn 2023 - 2025, tiến tới chuẩn hóa mô hình khu công nghiệp sinh thái giai đoạn 2025 - 2030. Các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để cùng kiến tạo chiến lược công nghiệp hóa xanh, hiệu quả và bền vững cho tương lai.