Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ (CẤP HUYỆN) 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP GẮN VỚI ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG 1. Phát triển công nghiệp - Khái niệm công nghiệp Công nghiệp được định nghĩa trong Từ điển bách khoa là “một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến, chế tác,chế phẩm" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo cho cuộc sống loài người trong sinh hoạt. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật” [32, tr.
Theo định nghĩa này, công nghiệp có thể được hiểu là một lĩnh vực sản xuất hàng hóa ở quy mô lớn, trong đó để sản xuất hàng hóa cho sản lượng hay năng suất cao, con người phải sử dụng tới máy móc, khoa học và công nghệ tiên tiến. Tác giả Đỗ Đức Định (1999) thì cho rằng công nghiệp là “hoạt động kinh tế quy mô lớn, sản phẩm (có thể là phi vật thể) tạo ra trở thành hàng hóa” [12, tr. Tức là khi hoạt động sản xuất hàng hóa trở nên chuyên nghiệp và ở một quy mô nhất định, thường là quy mô lớn, thì sẽ trở thành ngành công nghiệp. Một số ví dụ về sản phẩm phi vật thể trong định nghĩa này là công nghiệp điện ảnh, công nghiệp phần mềm máy tính, công nghiệp giải báo chí.
Theo Lê Thị Thanh Hà (2019), công nghiệp là “hoạt động kinh tế dựa trên việc sản xuất hàng hóa trên quy mô lớn với sự trợ giúp của máy móc chuyên dụng” [13, tr. Định nghĩa này cơ bản trùng khớp với hai định nghĩa trên, nó vẫn cho thấy công nghiệp là ngành sản xuất ở quy mô lớn với sự trợ giúp từ máy móc. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản rằng, công nghiệp là một hoạt động 11 kinh tế, trong đó con người sản xuất được hàng hóa (vật thể và phi vật thể) ở quy mô nhất định (thường là quy mô lớn) với sự trợ giúp của máy móc hoặc khoa học – công nghệ, kĩ thuật hiện đại. - Khái niệm phát triển công nghiệp Có khái niệm cho rằng, phát triển đơn giản là sự tăng lên về mặt số lượng và chất lượng của sự vật, hiện tượng theo hướng tích cực hơn trước, tức là tạo ra cái mới dựa trên sự tăng tiến về số lượng hoặc chất lượng của cái cũ.
Khái niệm này coi phát triển chỉ đơn thuần là sự tăng lên về số lượng và chất lượng. Khái niệm phát triển phổ biến nhất trên thế giới và được công nhận nhiều nhất đến từ quan điểm của Mác – Lênin, theo đó phát triển là “quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn” [6, tr.
Khái niệm này không chỉ nói tới sự tăng tiến về mặt số lượng và chất lượng của sự vật, hiện tượng mà còn nhấn mạnh tới quá trình của nó. Theo đó, phát triển là quá trình có thể diễn ra nhanh, từ tốn hoặc chậm, song kết quả là tạo ra một cái mới tiến bộ hơn cái cũ. Đặc biệt, khái niệm này cho rằng phải có sự tích lũy đủ về lượng mới có được sự thay đổi về chất đồng thời khái niệm này còn cho rằng, phát triển có tính chu kỳ. Qua mỗi chu kỳ, sự vật hiện tượng lại cần được tích lũy tiếp về lượng để biến đổi về chất, tạo ra cái mới mới hơn trước theo chiều hướng tích cực hơn, tức là tốt đẹp hơn trước.
Lồng ghép khái niệm về công nghiệp và khái niệm về phát triển, có thể hiểu rằng phát triển công nghiệp là “quá trình thay đổi theo chiều hướng tiến bộ hơn mọi mặt của ngành công nghiệp, nó bao gồm sự tăng trưởng công nghiệp cũng như sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hướng tiến bộ, hợp lý hơn. Từ góc độ logic của quá trình phát triển, phát triển công nghiệp được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất của ngành công nghiệp”. Phát triển công nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất kinh tế ở quy mô lớn với máy móc, khoa học công nghệ và kĩ 12 thuật tốt hơn trước, tạo ra một ngành công nghiệp mới có sản lượng và chất lượng sản xuất vật chất/ hoặc phi vật chất tốt hơn trước. Phát triển công nghiệp là một quá trình đòi hỏi sự tích lũy về lượng để biến đổi về chất.
Qúa trình phát triển công nghiệp này có thể diễn ra nhanh, chậm hoặc từ từ, nó phụ thuộc vào khả năng tích lũy về lượng của nền công nghiệp cũng như phụ thuộc vào yếu tố khoa học công nghệ. An ninh môi trường và đảm bảo an ninh môi trường - Khái niệm môi trường Theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc, môi trường được định nghĩa là “các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [40, tr. Theo định nghĩa này, môi trường là tất cả những gì tồn tại xung quanh con người và chúng tác động lên sự tồn tại cũng như đời sống của con người. Theo Liên hợp quốc, môi trường là “một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó.
Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con” [41]. Theo đó, môi trường không chỉ là một tập hợp các yếu tố xung quanh cuộc sống của con người, mà còn xung quanh một hệ thống, tác động tới sự tồn tại cũng như xu hướng phát triển của hệ thống đó. Môi trường còn được định nghĩa là “tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế”.
Theo đó, môi trường là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội xung quanh con người, lấy con người làm trọng tâm, tác động lên mọi mặt đời sống của con người. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 của Việt Nam định nghĩa môi trường là “hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [20]. Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2020 cho rằng “môi 13 trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên” [21]. Về cơ bản, môi trường được chia ra làm hai loại chính là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Trong đó, môi trường tự nhiên được hiểu là “những gì tồn tại ngoài ý muốn của con người, chịu sự tác động của con người dù sự tác động đó nhiều hay ít”. Ví dụ về môi trường tự nhiên là tất cả các yếu tố tồn tại khách quan trên trái đất như nước, không khí, mặt trăng, mặt trời, động thực vật. Chúng không do con người tạo ra mà tồn tại trước cả sự ra đời của loài người. Tuy nhiên chúng lại chịu tác động từ con người.
Ví dụ như con người thực hiện khai thác biển đảo, gây ảnh hưởng tới môi trường biển đảo. Hay con người tác động lên không khí thông qua việc thải các loại khí thải ra ngoài không khí…Ở đây, sự tác động của con người lên môi trường sẽ có cả sự tác động tích cực lẫn tiêu cực, tùy thuộc vào mục đích, hành động của con người khi tác động lên tự nhiên. Chẳng hạn như con người trồng cây gây rừng là tác động tích cực lên môi trường tự nhiên. Con người gây ô nhiễm nguồn nước là tác động tiêu cực lên môi trường tự nhiên.
Về môi trường xã hội, đây được định nghĩa là “tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác”.
Như vậy, môi trường xã hội hoàn toàn được tạo ra bởi con người, do con người quyết định. Nó ảnh hưởng lên đời sống của con người. Tóm lại, môi trường là “tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển”. - Khái niệm an ninh môi trường và đảm bảo an ninh môi trường Theo Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì an ninh môi trường được định nghĩa là “việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia” [20].
Theo đó, khái niệm đảm bảo an ninh môi trường sẽ được hiểu là tất cả các hoạt động mà các chủ thể thực hiện nhằm 14 hạn chế các tác động xấu từ môi trường tới kinh tế, chính trị và xã hội ở quốc gia. Các biện pháp này có thể là những biện pháp bảo vệ môi trường, bởi vì khi môi trường được bảo vệ thì nó sẽ tác động tích cực lên đời sống của con người nói chung, tới các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói riêng của quốc gia. Các giải pháp này cũng có thể là các giải pháp khắc phục những hậu quả do môi trường gây ra cho con người.