Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1. Lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 1. Quan niệm, nội dung về phát triển bền vững 1. Quan niệm Tất cả mọi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất kỹ thuật thích ứng, đó là hệ thống các yếu tố về chất của lực lượng sản xuất để tái tạo ra vật chất đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất về tiến bộ khoa học - kỹ thuật, về nguồn nhân lực và quy mô tích lũy là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến phát triển vật chất. Đồng thời, tính chất và trình độ của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ trong mối quan hệ hữu cơ đối với quá trình phát triển. Phát triển bền vững được nói đến không phải dựa trên nội dung của phương thức sản xuất mà được nhìn nhận trong quá trình thực hiện phương thức sản xuất. Quá trình phát triển lực lượng sản xuất và sự phù hợp của quan hệ sản xuất tạo nên sự bền vững trong phát triển.
Hay nói cách khác, mặt trái của quá trình sản xuất vật chất, quá trình phát triển kinh tế xã hội đã gây ra độ chênh giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội dẫn đến mất dần sự bền vững trong môi trường sống. Những thách thức mang tính toàn cầu về sự phát triển đã được nhận định trong những năm cuối thập niên 70 – thế kỷ XX, đó chính là: sự can thiệp quá lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trái đất; sự gia tăng dân số, đói nghèo, dịch bệnh, cùng các tệ nạn xã hội. Những thách thức nói trên đã gây ảnh hưởng rất lớn cho phát triển. Nó không chỉ đe dọa sự phát triển mà đe dọa cho tồn tại không chỉ của mỗi quốc gia, mỗi khu vực mà ảnh hưởng cả toàn cầu.
Vào năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên - IUCN đã đưa ra chiến lược có tên gọi: “Chiến lược bảo toàn thế giới”, trong đó có mục tiêu tổng thể là đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sống. Từ đó thuật ngữ “Phát triển bền vững” được nói đến. Tuy nhiên trong thời điểm này, nội hàm của “Phát triển bền vững” chỉ hiểu trong khía cạnh môi trường. Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển - WCED của Liên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 hiệp quốc đã công bố bảng báo cáo nội dung “Tương lai của chúng ta”.
Trong báo cáo đã định nghĩa phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Đến tháng 6 năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức ở Rio de Janeiro – Braxin, đã đưa ra “Bản tuyên ngôn về môi trường và phát triển”, trong đó Hội nghị lần nữa khẳng định lại: “Phát triển bền vững là nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không gây tổn hại đến sự thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”. Năm 2002, tại Johannesburg – Nam Phi, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đã tổng kết, đánh giá lại 10 năm thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững toàn cầu. Trong hội nghị đã bổ sung và hoàn chỉnh định nghĩa Phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường”.
Vậy, có thể khái quát phát triển bền vững là tương tác giữa ba trụ cột: kinh tế; xã hội - con người và môi trường. Để có được quá trình phát triển bền vững như vậy, tất cả các nước phải tiến hành xây dựng, gắn kết mọi quan hệ với nhau trên cơ sở phát triển quy mô bền vững. Nói cách khác, xây dựng nền tảng của phát triển bền vững là xây dựng phương thức sản xuất hiện đại trong thời đại mới, là quy luật chung, phổ biến đối với toàn cầu mà đặc biệt là các nước trong quá trình phát triển như nước ta. Phát triển bền vững chính là con đường và bước đi tất yếu để cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Ba trụ cột tương tác trong phát triển bền vững bao hàm cả điều kiện tự nhiên, con người và xã hội, bao hàm cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, "Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không Kinh tế làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặc chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, Con người bảo đảm tiến bộ xã hội và môi trường". Nội dung phát triển bền vững Môi trường Xã hội * Phát triển bền vững về kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Khi xét đến phát triển bền vững về kinh tế là nói đến sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở không ngừng nâng cao tính hiệu quả, có hàm lượng khoa học và công nghệ, hạn chế đến mức thấp nhất về tài nguyên, từng bước cải thiện môi trường với khẩu hiệu "phát triển nền kinh tế xanh”. Tăng trưởng kinh tế dựa vào yếu tố nội sinh là chủ yếu và cơ bản nhất.
Trong đó, chiến lược phát triển con người là then chốt bởi nó quyết định cho mọi nguồn lực phát triển. Con người tạo ra chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ sở vật chất cho kỹ thuật, tạo ra năng lực sáng tạo khoa học, tạo ra vốn tích lũy, tạo ra mức độ hiện đại cơ sở hạ tầng, tạo ra các khu đô thị. Nếu tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên hoặc chỉ dựa vào vốn vay nước ngoài hoặc chỉ bán sản phẩm thô thì một lúc nào đó tài nguyên sẽ cạn kiệt và phụ thuộc, không thể có nền kinh tế bền vững. Phát triển bền vững về kinh tế chính là việc đảm bảo công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và bảo đảm tính "kế thừa xã hội”.
Thực hiện cải thiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em và cộng đồng, tạo ra sự công bằng về ‘‘quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, đồng thời xóa dần sự cách biệt chênh lệch về thu nhập mọi thành viên trong cộng đồng. Do đó, nếu chỉ quan tâm một cách chủ quan về tăng trưởng trong khi không nhìn một cách tổng thể sẽ dẫn đến tình trạng phân phối xã hội chỉ tập trung bởi các đối tượng sở hữu các nguồn lực và từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích. Mọi thành quả của quá trình phát triển sẽ làm mất động lực phát triển dẫn đến khủng hoảng trong dài hạn. Vì vậy, phát triển bền vững về kinh tế là quá trình phát triển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, tránh được sự suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại nợ nần cho các thế hệ mai sau.
* Phát triển bền vững về xã hội Kết quả quá trình phát triển ngày càng cao trong việc thực hiện công bằng xã hội là yếu tố quan trọng nhất trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Tiền đề của công bằng xã hội là bảo đảm cho mọi người có công ăn việc làm, được học hành, từng bước không còn tình trạng đói nghèo, chênh lệch về thu nhập. Vì vậy, vấn đề cơ bản trong phát triển bền vững xã hội là tạo đồng thuận xã hội về ý thức xã hội và tồn tại xã hội, nâng cao dân trí, từ đó tạo ra công bằng, minh bạch trong cộng đồng. Xã hội được hiểu theo 2 nghĩa: rộng và hẹp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo nghĩa rộng, xã hội là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loài người nhằm phân biệt với cái tự nhiên. Nói cách khác, xã hội là tất cả những gì liên quan đến con người, các nhóm người, các cộng đồng người. Là những gì liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người.
Theo nghĩa hẹp, xã hội là mối liên hệ nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của con người. Đó chính là tính nhân văn của mỗi con người trong mối quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển về kinh tế, chính trị bảo đảm tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người. Do đó, khi xét đến khía cạnh này thì những vấn đề nảy sinh cần phải giải quyết là: sự phân tầng xã hội; sự bất bình đẳng trong giáo dục, trong chăm sóc sức khỏe; về dân số - kế hoạch hóa gia đình; về giải quyết việc làm; về các tệ nạn xã hội; về an toàn giao thông; về ô nhiễm môi trường; về bất bình đẳng dân tộc, tôn giáo. Vì vậy, trong phát triển bền vững cần thiết phải chú trọng đến văn hóa xã hội.
Sự ổn định và phát triển trong văn hóa - xã hội là một trong những mục tiêu phải thực hiện. Thực chất sự hoàn thiện xã hội là văn hóa, là hoàn thiện con người. Con người luôn tạo ra tất cả các giá trị trong cuộc sống. Con người tạo nên đạo lý làm người, là những chuẩn mực về phương thức sản xuất và phong tục tập quán, nhờ đó mà con người gắn kết với nhau trong cộng đồng.
Sức mạnh và giá trị của cộng đồng và của cá nhân được hình thành từ đó. Vì con người có thể xây dựng nhiều công trình vĩ đại mà không một sinh vật hay động vật nào có thể làm được. Thước đo cho các giá trị văn hóa - xã hội chính là vốn xã hội. Vốn xã hội bao hàm các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, nó tùy thuộc vào ý thức và kỳ vọng của người này đối với người khác trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, tạo nên các mối liên hệ thông tin hữu ích, tạo nên lề thói, tập quán trong cộng đồng.
Mỗi người phải tự ý thức trong các mối quan hệ xã hội.