phần mở đầu, danh mục bảng biểu, chữ viết tắt, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc học viên chia làm 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững nguồn nhân lực Chƣơng II: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Chi cục thuế quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Chƣơng III: Giải pháp, kiến nghị phát triển bền vững nguồn nhân lực tại Chi cục thuế quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 8 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức 1. Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động). Bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định.
Khi đề cập đến NNL, ngƣời ta thƣờng nói đến số lƣợng và chất lƣợng của NNL đó. Số lƣợng nguồn nhân lực thể hiện quy mô NNL và tốc độ tăng NNL hàng năm. Số lƣợng này, trong điều kiện nhất định, phụ thuộc quy mô của tổ chức. Tổ chức càng lớn thì số lƣợng nhân viên càng đông và ngƣợc lại tổ chức quy mô càng nhỏ thì số lƣợng nhân viên càng ít.
Chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức là mức độ đáp ứng, phù hợp về chất lƣợng nhân lực theo các loại cơ cấu mà tổ chức thu hút, huy động đƣợc với chất lƣợng nhân lực theo các cơ cấu nhân lực đó mà hoạt động của tổ chức yêu cầu. Nhƣ vậy cần làm rõ chất lƣợng nhân lực theo các cơ cấu mà tổ chức yêu cầu cũng nhƣ chất lƣợng nhân lực theo các cơ cấu mà tổ chức thu hút, huy động đƣợc và chỉ ra mức độ chênh lệch giữa cung cầu nhân lực đối với tổ chức. Để đánh giá nguồn nhân lực thì chúng ta có 2 nhóm chỉ tiêu: số lƣợng nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực. Cụ thể: Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực: Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc thể hiện qua nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau: + Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực.
Một ngƣời có sức khoẻ không đơn thuần là ngƣời đó không có bệnh tật. Sức khoẻ theo định nghĩa chung nhất chính là trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần, là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần. Chúng ta có thể đánh giá tình trạng sức khoẻ qua một số chỉ tiêu chủ yếu sau: (ii) Tuổi thọ bình quân; (ii) Chiều cao và cân nặng trung bình của ngƣời lao động; (iii) Chỉ tiêu phân loại sức khoẻ; (iv) Chỉ tiêu dân số trong độ 9 tuổi lao động không có khả năng lao động và suy giảm sức khoẻ; (v) Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật,… + Chỉ tiêu trình độ văn hoá của nguồn nhân lực. Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lƣợng nguồn nhân lực, và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Những chỉ tiêu đó là: (i) Tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ; (ii) Tỷ lệ đi học chung; (iii) Tỷ lệ đi học ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông,… + Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực. Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó (nó biểu hiện trình độ đào tạo ở các trƣờng trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học), có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực đƣợc đo bằng: (i) Tỷ lệ cán bộ tổ chức; (ii) Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học; (iii) Tỷ lệ cán bộ trên đại học,… + Chỉ số phát triển con nguời (HDI).
Đây là thƣớc đo tổng hợp về sự phát triển con ngƣời trên ba phƣơng diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập. Ba chỉ tiêu thành phần phản ánh các khía cạnh sau: (i) Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, đƣợc đo bằng tuổi thọ trung bình; (ii) Kiến thức đƣợc đo bằng tỷ lệ nguời lớn biết chữ (với quyền số 2/3) và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học (với quyền số 1/3); (iii) Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu ngƣời,… Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con ngƣời về mặt kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lƣợng cuộc sống và sự công bằng xã hội. + Một số chỉ tiêu khác: Bên cạnh những chỉ tiêu có thể lƣợng hoá đƣợc nhƣ trên, ngƣời ta còn xem xét đến các chỉ tiêu định tính thể hiện năng lực phẩm chất của ngƣời lao động. Chỉ tiêu này đƣợc thể hiện qua các mặt: (i) Truyền thống dân tộc bảo vệ Tổ quốc; (ii) Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc; (iii) Phong tục tập quán, lối sống,… 10 Nhóm chỉ t êu đá á số lượng nguồn nhân lực: Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá số lƣợng nguồn nhân lực nhƣng tiêu biểu thì ngƣời ta hay dùng các chỉ tiêu sau: (i) Tỷ lệ nguồn nhân lực trong dân số; (ii) Tỷ lệ lực lƣợng lao động trong dân số; (iii) Tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động của ngƣời trong độ tuổi lao động; (iv) Tỷ lệ lao động có việc làm trong lực lƣợng lao động,… Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Các lý thuyết kinh tế học hiện đại đã chỉ ra rằng nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của một quốc gia, đặc biệt là trong một tổ chức.
Nguồn nhân lực là một tài sản quan trọng nhất của một tổ chức, lợi ích do nguồn nhân lực tạo ra không thể xác định đƣợc một cách cụ thể mà nó có thể đạt tới một giá trị vô cùng to lớn. Nguồn nhân lực trong một tổ chức vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho hoạt động của tổ chức. Nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cấu thành nên tổ chức, là điều kiện cho tổ chức tồn tại và phát triển đi lên. Vì vậy một tổ chức đƣợc đánh giá mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức đó.
Trong điều kiện xã hội phát triển nhƣ ngày nay, yêu cầu của khách hàng ngày càng cao đòi hỏi các tổ chức muốn tồn tại phải chú trọng đến việc đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao hàm lƣợng chất xám có trong một sản phẩm và dịch vụ, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nhƣng vẫn đảm bảo chất lƣợng. Làm đƣợc điều này đòi hỏi tổ chức phải có đội ngũ nhân viên năng động, luôn bám sát nhu cầu thị hiếu của khách hàng, kịp thời đáp ứng nhanh nhất theo sự thay đổi đó. Mặt khác ngày nay khoa học kỹ thuật thay đổi rất nhanh chóng, vòng đời công nghệ cũng nhƣ các sản phẩm có xu hƣớng ngày càng bị rút ngắn. Bởi vậy tổ chức luôn phải đảm bảo có đội ngũ nhân viên đáp ứng kịp thời với sự thay đổi.
Chính vì các lý do trên, chúng ta có thể khẳng định rằng việc nâng cao chất lƣợng cho nguồn nhân lực trong một tổ chức là vô cùng quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ tổ chức nào. Một lực lƣợng lao động chất lƣợng cao luôn là lợi thế cạnh tranh vững chắc cho tổ chức. Ở một khía cạnh khác, đầu tƣ vào 11 con ngƣời đƣợc xem là cách đầu tƣ hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trƣởng nhanh, bền vững của một tổ chức, đảm bảo tay nghề của đội ngũ nhân viên, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm bớt tai nạn lao động. Muốn nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phải kết hợp đƣợc đồng thời hiệu quả của 3 quá trình: Thu hút, sử dụng và đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong đó đặc biệt coi trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
Có thể nói rằng phát triển nguồn nhân lực có chất lƣợng cao chính là chìa khóa cho sự phát triển bền vững của một tổ chức trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Ý ĩ của phát triển nguồn nhân lực: Đối với nhân viên: (i) Trực tiếp giúp nhân viên làm việc tốt hơn, đặc biệt khi nhân viên làm việc không đáp ứng đƣợc các tiêu chuẩn mẫu hoặc khi nhân viên nhận công việc mới; (ii) Tạo cho ngƣời lao động có cách nhìn, cách tƣ duy mới trong công việc của họ, là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của ngƣời lao động trong công việc. Duy trì và nâng cao chất lƣợng của nguồn nhân lực; (iii) Giảm bớt sự giám sát vì ngƣời lao động đƣợc đào tạo là ngƣời có khả năng tự giám sát; (iv) Tạo cho ngƣời lao động có cách nhìn, cách tƣ duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của ngƣời lao động trong công việc. Duy trì và nâng cao chất lƣợng của nguồn nhân lực.
Đối với tổ chức: (i) Đáp ứng yêu cầu công việc của tổ chức hay nói cách khác là để đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức; (ii) Nhờ phát triển NNL mà các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong cạnh tranh, nâng cao tính ổn định và năng động; (iii) Phát triển NNL giúp tổ chức sử dụng các máy móc, phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại. Tạo điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý vào tổ chức; (iv) Thực tế cho thấy, phát triển nguồn nhân lực là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể đi lên trong cạnh tranh. Nếu làm tốt công tác phát triển nguồn nhân lực sẽ đem lại nhiều tác dụng cho các tổ chức; (v) Phát triển NNL có thể giúp các nhà quản trị giải quyết đƣợc các mâu 12 thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và giữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý nguồn nhân lực của tổ chức có hiệu quả. Nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước Cơ qu à c í à ước Các cơ quan hành chính nhà nƣớc đƣợc thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc, nghĩa là thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành.
Hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động đƣợc tiến hành trên cơ sở Hiến pháp, luật, pháp lệnh và để thực hiện pháp luật.